Giới thiệu sách tháng 9/2025, chủ đề: An toàn giao thông
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Lịch sử Việt Nam bằng tranh 21- Thành lập nhà Trần

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 19h:26' 17-11-2024
Dung lượng: 5.9 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 19h:26' 17-11-2024
Dung lượng: 5.9 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ 9
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Văn Đoàn - Lâm Chí Trung
Biên tập hình ảnh: Lương Trọng Phúc
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Thành lập nhà Trần / Trần Bạch Đằng chủ biên ; họa sĩ Nguyễn Đức Hòa. - Tái bản lần
thứ 9. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2013.
112 tr. : minh họa ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.21).
1. Việt Nam — Lịch sử — Sách tranh. 2. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Trần, 12251400 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Pictorial works. 2. Vietnam — History — Trần dynasty, 12251400 — Pictorial works.
959.7024 — dc 22
T367
LỜI GIỚI THIỆU
Khi nhà Lý suy yếu, nhà Trần với sự phù trợ của Trần Thủ
Độ đã thực hiện cuộc chuyển giao quyền lực ít đổ máu nhất
trong lịch sử nước ta từ nhà Lý sang nhà Trần. Nhà Trần bắt
đầu khi vua Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần
Cảnh, cũng chính là vua Trần Thái Tông – vị vua đầu tiên của
nhà Trần và chấm dứt hoàn toàn vai trò của triều Lý trong lịch
sử nước ta vào năm 1225.
Ở buổi đầu thành lập nhà Trần, không thể nào không nhắc
đến vai trò của Thái sư Trần Thủ Độ. Tuy không đỗ đạt khoa cử,
ông đã giúp nhà Trần bình phục được giặc giã trong nước, giúp
cho Đại Việt bấy giờ được cường thịnh trở lại sau hồi suy yếu
cuối thời Lý, và tạo nền tảng về sức lực và tinh thần trong cuộc
xâm lược của quân Mông Cổ, bảo vệ sự tồn vong của cả một
dân tộc đang đứng trước nguy cơ bị san bằng. Dầu có cả công
và tội, dẫu tội to hay công lớn, nhưng lịch sử vẫn mãi lưu danh
ông là một bậc đại thần luôn hết lòng tận trung, vì dân vì nước.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 21 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Thành lập nhà Trần” phần lời
do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn
Đức Hòa thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 21 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Sử nước ta đã chép về đức độ Thái sư Trần Thủ Độ
như sau:
“Thái Tông thường có ý muốn cho anh Thủ Độ là An
Quốc làm Tể tướng. Thủ Độ từ chối nói rằng: “An Quốc
là anh tôi, nếu bệ hạ thấy là người hiền tài, thì tôi xin từ
chức để nhường cho anh tôi, nếu bệ hạ thấy không phải
là người hiền tài thì không nên dùng, chứ nếu cả hai anh
em cùng làm tướng, thì đối với thiên hạ còn ra thế nào?”.
Do đó Thái Tông mới bỏ đi ý nghĩ đó.”
(Khâm định Việt sử thông giám cương mục
chính biên, quyển VII)
4
Vào cuối triều Lý, Đại Việt gặp cảnh rối ren. Trong nước thì
loạn lạc bởi vua Lý Huệ Tông thường xuyên đau yếu và tính tình
lại nhu nhược nên không trông coi việc triều chính. Bên ngoài,
các nước Chiêm Thành, Chân Lạp hay đem quân sang quấy nhiễu.
Còn ở phương bắc, đế quốc Mông Cổ đang trở nên lớn mạnh và
bành trướng khắp từ Âu sang Á, trở thành nguy cơ cho các nước
ở phương nam trong đó có nước Tống (Trung Quốc), Đại Lý (Vân
Nam) và Đại Việt.
5
Lúc này, họ Trần đã nắm giữ mọi chức vụ trọng yếu trong
triều(*). Đến năm 1224, vua Lý Huệ Tông đi tu, nhường ngôi lại
cho người con gái mới bảy tuổi là Lý Phật Kim. Đó là Lý Chiêu
Hoàng, vua cuối cùng của nhà Lý.
* Xem Nhà Lý suy vong.
6
Quan Điện tiền Chỉ huy sứ là Trần Thủ Độ xếp đặt cho Lý
Chiêu Hoàng lấy cháu ruột của mình là Trần Cảnh lúc đó cũng
vừa bảy tuổi. Năm sau, Trần Thủ Độ dàn cảnh để Lý Chiêu Hoàng
nhường ngôi lại cho chồng (1225). Như vậy, triều Lý chấm dứt
với 9 đời vua trị vì (kể cả Lý Chiêu Hoàng), kéo dài 216 năm.
* Trước đó đã gả chị của Chiêu Hoàng là Thuận Thiên cho anh của Trần
Cảnh là Trần Liễu.
7
Trần Cảnh lên làm vua tức Trần Thái Tông. Chiêu Hoàng được
phong làm Hoàng hậu, gọi là Chiêu Thánh. Còn Trần Thủ Độ lên
làm Thái sư. Vua Trần Thái Tông sinh năm 1218 và mất vào năm
1277. Sử cũ chép rằng nhà vua rất khôi ngô, mũi cao, nét uy nghi,
dáng đường bệ. Tư chất vua lại thông minh và tính tình thì gan dạ.
8
Dù là vua đầu tiên của một triều đại, nhưng Trần Cảnh không
có miếu hiệu là Thái Tổ mà là Thái Tông. Lý do vì cha ruột của
vua là Trần Thừa vẫn còn sống và làm quan trong triều với chức
Phụ quốc Thái úy. Sau khi Trần Cảnh lên làm vua, Trần Thừa
được tôn làm Thượng hoàng. Vì vua Trần chỉ mới tám tuổi nên
không thể định đoạt được chính sự. Bởi vậy, mọi quyền hành đều
nằm trong tay Trần Thừa và nhất là Thái sư Trần Thủ Độ.
9
Thượng hoàng Trần Thừa có quyền quyết định đối với những
việc lớn của đất nước. Ông có cung riêng, được gọi là cung Phụng
Thiên. Vai trò chủ yếu của ông trong triều đình là giúp đỡ vua trẻ
trong việc triều chính, còn Trần Thủ Độ lo việc dẹp yên các cuộc
nổi loạn đang xảy ra ở nhiều nơi trong nước.
10
Theo truyền thuyết, Thượng hoàng Trần Thừa lúc nhỏ sống
trong cảnh hàn vi, thường hay đến các đình trạm(*) để ngủ. Một
hôm, Trần Thừa mơ thấy một nhà sư đến bảo rằng: “Người trẻ
tuổi này ngày sau phải đại quý”. Tỉnh dậy thì không thấy ai cả.
Bây giờ được ở ngôi cao sang, Trần Thừa nhớ lại giấc mộng cũ,
bèn xuống chiếu ra lệnh cho tất cả các đình trạm đều phải đúc
tượng Phật mà thờ.
* Thuở ấy, nước Đại Việt có rất nhiều đình trạm để cho người đi đường trú
mưa, trú nắng.
11
Trần Thừa nhiếp chính cho vua Trần Thái Tông được 9 năm
thì mất (1234), chỉ còn Trần Thủ Độ quyết đoán mọi việc cho đến
khi vua trưởng thành. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại rằng:
“Trần Thủ Độ tuy không có học vấn nhưng tài lược hơn người”.
Ông đã củng cố thế lực nhà Trần bằng những biện pháp cứng rắn.
12
Trước hết, Trần Thủ Độ tìm mọi cách để loại bỏ ảnh hưởng
của nhà Lý. Tuy rằng nhà Trần đã nắm ngôi báu nhưng trong dân
chúng vẫn còn kẻ nhớ tiếc triều cũ. Vì thế, khi Lý Huệ Tông rời
chùa, lang thang ra chợ, có nhiều người ra đón gặp và khóc thương.
13
Trần Thủ Độ chứng kiến được cảnh đó nên ép Lý Huệ Tông
vào tu ở chùa Chân Giáo nằm sâu trong vòng hoàng cung, nhằm
tách biệt vua cũ với dân chúng. Ít lâu sau, Thủ Độ lại bức ông phải
tự xử. Hoàng hậu vua Lý là Trần Thị Dung bị giáng làm Thiên
Cực Công chúa (sau trở thành vợ Trần Thủ Độ, được phong là
Linh Từ Quốc mẫu).
14
Các tướng lĩnh trung thành với nhà Lý
cũng bị Trần Thủ Độ tìm cách tiêu diệt.
Số trốn thoát thì thay tên đổi họ, sống mai
danh ẩn tích. Đặc biệt có hoàng tử Lý Long
Tường cùng gia quyến mang binh thuyền
vượt biển để tránh sự truy bức. Sau bao
ngày lênh đênh vất vả, thuyền cập xứ Cao
Ly, tức bán đảo Triều Tiên ngày nay.
15
Ngoài ra, để không còn ai mang họ Lý nữa, Trần Thủ Độ lấy
cớ Lý là tên của ông Trần Lý, tổ phụ họ Trần và là ông nội của
vua Trần Thái Tông, nên người nào mang họ Lý, dù không phải
là thân thích của triều cũ, cũng phải đổi thành họ Nguyễn để tránh
phạm húy.
16
Tuy vậy, Trần Thủ Độ là người rất có công trong việc dẹp loạn
và chấn hưng đất nước. Bấy giờ, một số thế lực ở các địa phương
nổi lên cát cứ, đặc biệt có Đoàn Thượng ở Hồng Châu (Hải Dương)
và Nguyễn Nộn ở Bắc Giang là nguy hiểm nhất. Thủ Độ điều
động quân lính đi đánh dẹp. Thấy hai thế lực này còn mạnh, ông
thay đổi chiến lược, không dùng quân sự để đàn áp mà thực hiện
chính sách chiêu dụ và chia rẽ.
17
Trần Thủ Độ xin vua phong Nộn làm Hoài Đạo vương, cho cai
quản một số huyện ở Bắc Giang. Đồng thời, cũng phong vương
cho Thượng và định ngày làm lễ thề. Tuy thế, vào ngày định ước,
Thượng không đến dự lại còn xây thành đắp lũy, đào hào, bắt
dân làm lính, tự mình làm chủ một cõi ở Hồng Châu, không chịu
phục tùng ai.
18
Nguyễn Nộn thấy thế đem quân đến đánh, giết chết Đoàn
Thượng thu nạp hết quân lính, của cải. Cả vùng Hồng châu bị
cướp bóc, tàn phá. Con của Thượng không thể chống đỡ, phải
quy hàng. Từ đấy thanh thế của Nguyễn Nộn ngày càng lừng lẫy.
Trước tình thế ấy, Thái sư Trần Thủ Độ hết sức lo lắng.
19
20
Lấy cớ Nguyễn Nộn chiến thắng được Đoàn Thượng, Trần Thủ
Độ cho người mang thư đến mừng, lại đem Công chúa Ngoạn
Thiềm gả cho Nộn với mục đích dùng nàng để dò la tình hình.
Dường như biết được ý định ấy, Nguyễn Nộn sai lính dựng cho
công chúa một cung riêng biệt để ở. Vì thế Ngoạn Thiềm cũng
không nghe ngóng được chuyện gì.
21
Đắc thắng, Nguyễn Nộn tự xưng là Đại Thắng vương và sa
vào tửu sắc. Tuy thế, Nộn cũng biết là phải phục tùng nhà Trần
nên xin hẹn ngày vào chầu vua Thái Tông, không may hôm ấy lại
lâm bệnh nặng, không thể vào được. Trần Thủ Độ cho người đến
viếng thăm. Nguyễn Nộn giấu bệnh, cố gượng dậy ăn cơm và phi
ngựa trước mặt sứ giả để tỏ ra mình vẫn khỏe mạnh, nhưng mấy
ngày sau thì mất.
22
Từ đấy trong nước hết loạn lạc. Trần Thủ Độ rảnh tay xây
dựng cơ đồ và tỏ ra là người công bằng, thao lược. Để kiểm soát
hộ khẩu trong nước, ông đặt ra lệ ghi chép danh sách dân gian tại
các thôn xã vào sổ. Sử cũ ghi rằng, trong một lần duyệt hộ khẩu,
bà Linh Từ, vợ của Trần Thủ Độ, muốn xin cho người quen của
mình làm một chức trong xã. Ông bèn ghi tên họ, quê quán của
người ấy và cho gọi đến.
23
Khi người quen của bà Linh Từ hớn hở đến trình diện, Trần Thủ
Độ bảo: “Ngươi vì có công chúa (tức bà Linh Từ) xin cho làm Câu
đương(*), thế thì không thể xem ngươi như những Câu đương khác.
Do đó, phải chặt một ngón chân của ngươi để phân biệt”. Người
ấy hoảng hồn, van xin không nhận chức để khỏi bị chặt ngón chân.
Từ đó, không ai dám nhờ ông can thiệp cho việc riêng tư nữa.
* Một chức ở trong xã.
24
Thái sư Trần Thủ Độ còn là người đề cao trật tự, pháp luật trong
nước và chính ông rất gương mẫu thực hiện. Có lần bà Linh Từ
ngồi kiệu định đi qua chỗ cấm thì bị một người quân hiệu(*) chặn
lại. Rất tức giận nhưng không làm gì được, bà đành phải về nhà
than vãn với chồng: “Mụ này làm vợ ông mà bọn quân hiệu lại
dám khinh nhờn như thế ư?”.
* Người lính có nhiệm vụ bảo vệ trật tự.
25
Trần Thủ Độ lập tức sai quân đi bắt người quân hiệu ấy. Cầm
chắc cái chết trong tay, nhưng trước mặt Thái sư, người quân hiệu
vẫn cứ theo sự thực mà kể lại. Nghe xong, Trần Thủ Độ không
những không trừng phạt mà còn khen: “Ngươi ở chức thấp mà
biết giữ phép nước như thế, ta còn trách gì nữa”. Nói đoạn, ông
đem vàng bạc ra thưởng cho anh ta.
26
Việc làm của Trần Thủ Độ khiến nhiều người nể phục, vì thế
luật lệ, phép tắc trong triều được tuân thủ nghiêm túc. Nhưng cũng
có người thấy quyền lực của Thái sư quá lớn nên lo lắng tâu với
vua Trần Thái Tông: “Nay bệ hạ đang tuổi nhỏ mà Trần Thủ Độ
lại chuyên quyền, thì việc xã tắc tính thế nào?”.
27
Nghe vua nói lại, Trần Thủ Độ chẳng hề bất bình. Ông tâu:
“Kẻ kia nói vậy mà đúng. Thật là có chuyện chuyên quyền. Trong
đám quan lại, chỉ có người này là ngay thẳng, bạo dạn, dám nói
thật. Vậy muốn cho triều đại thịnh vượng thì phải khuyến khích
người nói thật”. Rồi ông xin phép vua đem lụa và tiền thưởng
cho người này.
28
Nhưng đôi khi, vì quyền lợi của dòng họ, Trần Thủ Độ cũng
có những việc làm thái quá. Đó là vào năm Đinh Dậu (1237),
vua Thái Tông đã 20 tuổi mà Hoàng hậu vẫn chưa sinh nở. Việc
không con đe dọa đến sự bền vững của ngai vàng. Bởi vậy, Trần
Thủ Độ ép vua phải phế Chiêu Thánh, rước vợ của Trần Liễu là
Thuận Thiên khi ấy đã có mang ba tháng, về lập làm Hoàng hậu
để cho vua có người nối dõi.
29
Trần Liễu bèn tụ tập quân lính nổi loạn ở sông Cái (sông Hồng)
còn vua thì bất bình, đang đêm một mình một ngựa lẻn trốn khỏi
thành nhằm núi Yên Tử mà đến. Khi tới Phả Lại, con ngựa đuối
sức, nhà vua liền bỏ ngựa, đi bộ. Mấy ngày sau mới lên được chùa
Phù Vân trên núi Yên Tử. Sư trụ trì chùa vốn là bạn cũ của nhà
vua, nên ngài ở lại đấy.
30
Trần Thủ Độ biết tin, đem quần thần đi đón.
Vua không chịu về, bảo: “Trẫm còn nhỏ dại,
không kham nổi việc trọng đại, phụ hoàng đã
vội lìa bỏ, sớm mất chỗ trông cậy, không dám
ở ngôi vua để làm nhục xã tắc”. Cố nài hai, ba
lần, nhà vua không chịu về. Thái sư bèn bảo mọi
người: “Xa giá ở đâu là triều đình ở đấy”. Rồi
sai cắm mốc, chăng dây, chia địa hình trong núi,
phỏng theo kích thước cung điện ở kinh thành
mà bắt thợ xây dựng.
31
Sư trụ trì thấy thế, tâu với nhà vua: “Bệ hạ nên gấp về kinh sư,
chớ để hại núi rừng của đệ tử”. Vua Trần Thái Tông không còn
cách nào, buộc lòng phải hồi cung.
32
Còn Trần Liễu cũng biết sức mình thế cô không chống chọi
được với người chú họ mưu lược và quyết đoán, nên một hôm
nhân lúc nhà vua đi chơi thuyền ở ngoài sông, ông giả dạng làm
người đánh cá, đi thuyền độc mộc đến xin hàng.
33
Hai anh em đang ôm nhau
khóc ròng thì Trần Thủ Độ nghe
tin, vội kéo quân đến thẳng
thuyền vua, rút gươm ra thét to:
- Giết chết tên giặc Liễu!
34
Nhà vua vội vàng đưa thân mình ra che chở cho anh trai và
phân trần:
- Phụng Càn vương (tên hiệu của Trần Liễu) đến hàng đó thôi.
Trần Thủ Độ tức lắm nhưng cũng không dám làm gì đành ném
gươm xuống sông, thốt lên:
- Thủ Độ này chỉ là con chó săn thôi, biết đâu sự thuận nghịch
của anh em nhà vua.
35
Nhà vua hòa giải để Trần Thủ Độ bãi binh rồi cấp cho Trần
Liễu vùng đất An Sinh (nằm ở hai huyện Đông Triều và Yên
Hưng, tỉnh Quảng Ninh ngày nay) để làm bổng lộc và phong ông
làm An Sinh vương. Tuy vậy, Trần Liễu vẫn ngầm mang nỗi oán
hận trong lòng. Mâu thuẫn này khiến trong hoàng tộc có nhiều
chia rẽ và phải đến đời con Trần Liễu là Hưng Đạo vương Trần
Quốc Tuấn mới được cởi bỏ.
36
Lúc này vua Trần Thái Tông đã đảm đương được việc triều
chính. Ngài tỏ ra là một vị minh quân, quyết định mọi việc trong
nước một cách sáng suốt. Nhà vua còn là người rất gan dạ. Vào
năm Tân Sửu (1241) vua thân chinh đi tuần ở biên giới bằng đường
thủy. Đến địa giới của nhà Tống, nhà vua bỏ thuyền lớn, dùng ba
thuyền nhỏ là Kim Phượng, Nhật Quang, Nguyệt Quang để thâm
nhập vào đất Tống.
37
Nhà vua tự xưng là chàng Chay (người thanh niên ăn chay
trường) và đi vào tận châu Khâm, châu Liêm(*). Thoạt tiên, dân
địa phương không biết là ai nên hoảng sợ bỏ chạy. Khi biết đấy
là vua nước Đại Việt, họ bèn chăng dây xích ngang dòng sông
để chặn đường trở về của thuyền vua. Vua không những không
nao núng còn sai quân lính nhổ cọc, tháo xích rồi ung dung theo
đường cũ về nước.
* Xem tập Lý Thường Kiệt.
38
Trần Thủ Độ vẫn tiếp tục giúp vua rất đắc lực. Vua tôi đều một
lòng lo cho đất nước, nhờ thế mà Đại Việt đã ổn định và ngày một
hưng thịnh. Nhà Trần vẫn giữ lệ cử hành lễ thề ở đền thờ thần Đồng
Cổ như dưới triều Lý để buộc các quan phải trung thành với triều
đình. Thái sư cho giữ nguyên ngày thề với các nghi thức cũ. Đó
là ngày mồng 4 tháng tư âm lịch hàng năm. Hôm ấy, trăm quan
ăn mặc chỉnh tề, đứng ngoài cửa thành từ lúc gà gáy cho đến mờ
sáng thì tiến vào triều.
39
Vua đã ngự sẵn ở điện Đại Minh. Trăm quan lần lượt vào lễ
vua hai lạy rồi cùng với đội nghi trượng rầm rộ ra cửa tây kinh
thành để đến đền Đồng Cổ. Khi các quan quỳ trước đài thờ thần,
quan Trung thư Kiểm chính đọc lời thề rằng: “Làm tôi phải tận
trung, làm quan phải thanh bạch, ai trái lời thề này thì thần minh
hại người ấy” rồi cùng nhau uống máu ăn thề.
40
Lời thề đọc xong, quan Tể
tướng sai đóng cửa lại để điểm
danh. Người nào vắng mặt thì
phạt 5 quan tiền(*). Ngày hôm
ấy con trai con gái từ khắp nơi,
chen vai thích cánh kéo về kinh
đô để xem lễ thề, để chiêm
ngưỡng trăm quan trong những
bộ nhung phục rực rỡ và cũng
để vui chơi hội hè. Dần dà ngày
cử hành lễ thề thần Đồng Cổ
cũng là ngày hội của dân chúng.
(*) Dưới thời Lý thì phạt đánh 50
trượng.
41
Triều đại nhà Trần đặc biệt ưu đãi giới quý tộc họ Trần. Chỉ có
người họ Trần mới được giữ những chức vụ quan trọng và chính
nhờ thế mà quyền lực của triều đại ngày càng chặt chẽ. Quý tộc
họ Trần đóng vai trò hoàn toàn quyết định trong bộ máy quan lại
và quân đội. Họ còn được cấp đất lập những thái ấp rộng lớn và
có một số lượng gia nô đông đảo.
42
Các quan lại khác đều có lương và ruộng đất, nhưng ruộng đất
của quan lại có quy mô nhỏ. Hệ thống quan lại được định chế rõ
ràng. Cấp quan cao nhất là Tam công, Tam thiếu, Thái úy, Tư mã,
Tư đồ, Tư không. Ở dưới là các quan văn võ chia làm hai: Quan
nội chức làm ở các bộ tại triều và quan ngoại chức làm việc tại
các địa phương. Cứ 15 năm thì các quan được lên chức một lần.
43
Từ năm 1242, nước Đại Việt được chia làm 12 lộ(*). Mỗi lộ
có quan cai trị là An Phủ sứ. Giúp việc cho An Phủ sứ là Chánh
Phủ sứ và Phó Phủ sứ. Dưới lộ là phủ, châu, huyện do các quan
Đại Tư xã hay Tiểu Tư xã trông coi. Quan Đại Tư xã phải từ ngũ
phẩm trở lên, còn quan Tiểu Tư xã thì từ lục phẩm trở xuống.
Đơn vị dưới cùng là làng xã do Xã quan quản lý, gồm Xã chính,
Xã sử và Xã giám.
(*) Tương đương với tỉnh ngày nay.
44
Tổ chức quân đội thời Trần có một bước tiến đáng kể so với
trước. Đặc biệt số lượng quân thường trực khá lớn, có thể đến
20.000 người. Quân triều đình gồm cấm quân và quân địa phương
(quân các lộ). Giống như các thời Đinh, Lý trước, cấm quân (quân
cấm vệ) thời Trần cũng là lực lượng chủ yếu trong quân đội nhà
Trần, có nhiệm vụ bảo vệ vua và triều đình. Quân này được tuyển
chọn cẩn thận từ các hương ấp quê hương họ Trần nên hết sức
trung thành.
45
Quân địa phương có nhiệm vụ bảo vệ các lộ và tham chiến trận
khi có chiến tranh. Ngoài cấm quân và quân các lộ, nhà Trần cũng
có các lực lượng vũ trang của các nhà quý tộc lớn để bảo vệ điền
trang, thái ấp của mình và tham gia chiến đấu bảo vệ đất nước
khi cần. Đáng chú ý là số lượng này khá lớn, một vương hầu có
thể có hàng ngàn quân.
46
Như triều Lý, nhà Trần cũng thi hành chính sách “ngụ binh ư
nông”. Tất cả dân tráng trong nước đều phải đi lính. Số quân binh
dịch này được phiên chế thành đô, ngũ(*) để luyện tập, hết hạ lại
trở về làm ruộng, khi nào có việc mới điều động.
* Một ngũ gồm 5 người, 10 ngũ là một đô.
47
Quân đội nhà Trần đã bắt đầu có sự phân biệt giữa quân thủy
và quân bộ. Ngoài ra còn có cả đội tượng binh và kỵ binh. Binh
lính được tập luyện kỹ lưỡng, có trật tự và chặt chẽ và quyết tâm
cao trước kẻ thù. Còn các tướng thì không chỉ tinh thông võ nghệ
mà còn giỏi cả binh pháp. Chính vì vậy, quân đội nhà Trần không
chỉ có lực lượng mạnh mà còn có kỹ thuật chiến đấu khá cao.
48
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Văn Đoàn - Lâm Chí Trung
Biên tập hình ảnh: Lương Trọng Phúc
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Thành lập nhà Trần / Trần Bạch Đằng chủ biên ; họa sĩ Nguyễn Đức Hòa. - Tái bản lần
thứ 9. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2013.
112 tr. : minh họa ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.21).
1. Việt Nam — Lịch sử — Sách tranh. 2. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Trần, 12251400 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Pictorial works. 2. Vietnam — History — Trần dynasty, 12251400 — Pictorial works.
959.7024 — dc 22
T367
LỜI GIỚI THIỆU
Khi nhà Lý suy yếu, nhà Trần với sự phù trợ của Trần Thủ
Độ đã thực hiện cuộc chuyển giao quyền lực ít đổ máu nhất
trong lịch sử nước ta từ nhà Lý sang nhà Trần. Nhà Trần bắt
đầu khi vua Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần
Cảnh, cũng chính là vua Trần Thái Tông – vị vua đầu tiên của
nhà Trần và chấm dứt hoàn toàn vai trò của triều Lý trong lịch
sử nước ta vào năm 1225.
Ở buổi đầu thành lập nhà Trần, không thể nào không nhắc
đến vai trò của Thái sư Trần Thủ Độ. Tuy không đỗ đạt khoa cử,
ông đã giúp nhà Trần bình phục được giặc giã trong nước, giúp
cho Đại Việt bấy giờ được cường thịnh trở lại sau hồi suy yếu
cuối thời Lý, và tạo nền tảng về sức lực và tinh thần trong cuộc
xâm lược của quân Mông Cổ, bảo vệ sự tồn vong của cả một
dân tộc đang đứng trước nguy cơ bị san bằng. Dầu có cả công
và tội, dẫu tội to hay công lớn, nhưng lịch sử vẫn mãi lưu danh
ông là một bậc đại thần luôn hết lòng tận trung, vì dân vì nước.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 21 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Thành lập nhà Trần” phần lời
do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn
Đức Hòa thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 21 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Sử nước ta đã chép về đức độ Thái sư Trần Thủ Độ
như sau:
“Thái Tông thường có ý muốn cho anh Thủ Độ là An
Quốc làm Tể tướng. Thủ Độ từ chối nói rằng: “An Quốc
là anh tôi, nếu bệ hạ thấy là người hiền tài, thì tôi xin từ
chức để nhường cho anh tôi, nếu bệ hạ thấy không phải
là người hiền tài thì không nên dùng, chứ nếu cả hai anh
em cùng làm tướng, thì đối với thiên hạ còn ra thế nào?”.
Do đó Thái Tông mới bỏ đi ý nghĩ đó.”
(Khâm định Việt sử thông giám cương mục
chính biên, quyển VII)
4
Vào cuối triều Lý, Đại Việt gặp cảnh rối ren. Trong nước thì
loạn lạc bởi vua Lý Huệ Tông thường xuyên đau yếu và tính tình
lại nhu nhược nên không trông coi việc triều chính. Bên ngoài,
các nước Chiêm Thành, Chân Lạp hay đem quân sang quấy nhiễu.
Còn ở phương bắc, đế quốc Mông Cổ đang trở nên lớn mạnh và
bành trướng khắp từ Âu sang Á, trở thành nguy cơ cho các nước
ở phương nam trong đó có nước Tống (Trung Quốc), Đại Lý (Vân
Nam) và Đại Việt.
5
Lúc này, họ Trần đã nắm giữ mọi chức vụ trọng yếu trong
triều(*). Đến năm 1224, vua Lý Huệ Tông đi tu, nhường ngôi lại
cho người con gái mới bảy tuổi là Lý Phật Kim. Đó là Lý Chiêu
Hoàng, vua cuối cùng của nhà Lý.
* Xem Nhà Lý suy vong.
6
Quan Điện tiền Chỉ huy sứ là Trần Thủ Độ xếp đặt cho Lý
Chiêu Hoàng lấy cháu ruột của mình là Trần Cảnh lúc đó cũng
vừa bảy tuổi. Năm sau, Trần Thủ Độ dàn cảnh để Lý Chiêu Hoàng
nhường ngôi lại cho chồng (1225). Như vậy, triều Lý chấm dứt
với 9 đời vua trị vì (kể cả Lý Chiêu Hoàng), kéo dài 216 năm.
* Trước đó đã gả chị của Chiêu Hoàng là Thuận Thiên cho anh của Trần
Cảnh là Trần Liễu.
7
Trần Cảnh lên làm vua tức Trần Thái Tông. Chiêu Hoàng được
phong làm Hoàng hậu, gọi là Chiêu Thánh. Còn Trần Thủ Độ lên
làm Thái sư. Vua Trần Thái Tông sinh năm 1218 và mất vào năm
1277. Sử cũ chép rằng nhà vua rất khôi ngô, mũi cao, nét uy nghi,
dáng đường bệ. Tư chất vua lại thông minh và tính tình thì gan dạ.
8
Dù là vua đầu tiên của một triều đại, nhưng Trần Cảnh không
có miếu hiệu là Thái Tổ mà là Thái Tông. Lý do vì cha ruột của
vua là Trần Thừa vẫn còn sống và làm quan trong triều với chức
Phụ quốc Thái úy. Sau khi Trần Cảnh lên làm vua, Trần Thừa
được tôn làm Thượng hoàng. Vì vua Trần chỉ mới tám tuổi nên
không thể định đoạt được chính sự. Bởi vậy, mọi quyền hành đều
nằm trong tay Trần Thừa và nhất là Thái sư Trần Thủ Độ.
9
Thượng hoàng Trần Thừa có quyền quyết định đối với những
việc lớn của đất nước. Ông có cung riêng, được gọi là cung Phụng
Thiên. Vai trò chủ yếu của ông trong triều đình là giúp đỡ vua trẻ
trong việc triều chính, còn Trần Thủ Độ lo việc dẹp yên các cuộc
nổi loạn đang xảy ra ở nhiều nơi trong nước.
10
Theo truyền thuyết, Thượng hoàng Trần Thừa lúc nhỏ sống
trong cảnh hàn vi, thường hay đến các đình trạm(*) để ngủ. Một
hôm, Trần Thừa mơ thấy một nhà sư đến bảo rằng: “Người trẻ
tuổi này ngày sau phải đại quý”. Tỉnh dậy thì không thấy ai cả.
Bây giờ được ở ngôi cao sang, Trần Thừa nhớ lại giấc mộng cũ,
bèn xuống chiếu ra lệnh cho tất cả các đình trạm đều phải đúc
tượng Phật mà thờ.
* Thuở ấy, nước Đại Việt có rất nhiều đình trạm để cho người đi đường trú
mưa, trú nắng.
11
Trần Thừa nhiếp chính cho vua Trần Thái Tông được 9 năm
thì mất (1234), chỉ còn Trần Thủ Độ quyết đoán mọi việc cho đến
khi vua trưởng thành. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại rằng:
“Trần Thủ Độ tuy không có học vấn nhưng tài lược hơn người”.
Ông đã củng cố thế lực nhà Trần bằng những biện pháp cứng rắn.
12
Trước hết, Trần Thủ Độ tìm mọi cách để loại bỏ ảnh hưởng
của nhà Lý. Tuy rằng nhà Trần đã nắm ngôi báu nhưng trong dân
chúng vẫn còn kẻ nhớ tiếc triều cũ. Vì thế, khi Lý Huệ Tông rời
chùa, lang thang ra chợ, có nhiều người ra đón gặp và khóc thương.
13
Trần Thủ Độ chứng kiến được cảnh đó nên ép Lý Huệ Tông
vào tu ở chùa Chân Giáo nằm sâu trong vòng hoàng cung, nhằm
tách biệt vua cũ với dân chúng. Ít lâu sau, Thủ Độ lại bức ông phải
tự xử. Hoàng hậu vua Lý là Trần Thị Dung bị giáng làm Thiên
Cực Công chúa (sau trở thành vợ Trần Thủ Độ, được phong là
Linh Từ Quốc mẫu).
14
Các tướng lĩnh trung thành với nhà Lý
cũng bị Trần Thủ Độ tìm cách tiêu diệt.
Số trốn thoát thì thay tên đổi họ, sống mai
danh ẩn tích. Đặc biệt có hoàng tử Lý Long
Tường cùng gia quyến mang binh thuyền
vượt biển để tránh sự truy bức. Sau bao
ngày lênh đênh vất vả, thuyền cập xứ Cao
Ly, tức bán đảo Triều Tiên ngày nay.
15
Ngoài ra, để không còn ai mang họ Lý nữa, Trần Thủ Độ lấy
cớ Lý là tên của ông Trần Lý, tổ phụ họ Trần và là ông nội của
vua Trần Thái Tông, nên người nào mang họ Lý, dù không phải
là thân thích của triều cũ, cũng phải đổi thành họ Nguyễn để tránh
phạm húy.
16
Tuy vậy, Trần Thủ Độ là người rất có công trong việc dẹp loạn
và chấn hưng đất nước. Bấy giờ, một số thế lực ở các địa phương
nổi lên cát cứ, đặc biệt có Đoàn Thượng ở Hồng Châu (Hải Dương)
và Nguyễn Nộn ở Bắc Giang là nguy hiểm nhất. Thủ Độ điều
động quân lính đi đánh dẹp. Thấy hai thế lực này còn mạnh, ông
thay đổi chiến lược, không dùng quân sự để đàn áp mà thực hiện
chính sách chiêu dụ và chia rẽ.
17
Trần Thủ Độ xin vua phong Nộn làm Hoài Đạo vương, cho cai
quản một số huyện ở Bắc Giang. Đồng thời, cũng phong vương
cho Thượng và định ngày làm lễ thề. Tuy thế, vào ngày định ước,
Thượng không đến dự lại còn xây thành đắp lũy, đào hào, bắt
dân làm lính, tự mình làm chủ một cõi ở Hồng Châu, không chịu
phục tùng ai.
18
Nguyễn Nộn thấy thế đem quân đến đánh, giết chết Đoàn
Thượng thu nạp hết quân lính, của cải. Cả vùng Hồng châu bị
cướp bóc, tàn phá. Con của Thượng không thể chống đỡ, phải
quy hàng. Từ đấy thanh thế của Nguyễn Nộn ngày càng lừng lẫy.
Trước tình thế ấy, Thái sư Trần Thủ Độ hết sức lo lắng.
19
20
Lấy cớ Nguyễn Nộn chiến thắng được Đoàn Thượng, Trần Thủ
Độ cho người mang thư đến mừng, lại đem Công chúa Ngoạn
Thiềm gả cho Nộn với mục đích dùng nàng để dò la tình hình.
Dường như biết được ý định ấy, Nguyễn Nộn sai lính dựng cho
công chúa một cung riêng biệt để ở. Vì thế Ngoạn Thiềm cũng
không nghe ngóng được chuyện gì.
21
Đắc thắng, Nguyễn Nộn tự xưng là Đại Thắng vương và sa
vào tửu sắc. Tuy thế, Nộn cũng biết là phải phục tùng nhà Trần
nên xin hẹn ngày vào chầu vua Thái Tông, không may hôm ấy lại
lâm bệnh nặng, không thể vào được. Trần Thủ Độ cho người đến
viếng thăm. Nguyễn Nộn giấu bệnh, cố gượng dậy ăn cơm và phi
ngựa trước mặt sứ giả để tỏ ra mình vẫn khỏe mạnh, nhưng mấy
ngày sau thì mất.
22
Từ đấy trong nước hết loạn lạc. Trần Thủ Độ rảnh tay xây
dựng cơ đồ và tỏ ra là người công bằng, thao lược. Để kiểm soát
hộ khẩu trong nước, ông đặt ra lệ ghi chép danh sách dân gian tại
các thôn xã vào sổ. Sử cũ ghi rằng, trong một lần duyệt hộ khẩu,
bà Linh Từ, vợ của Trần Thủ Độ, muốn xin cho người quen của
mình làm một chức trong xã. Ông bèn ghi tên họ, quê quán của
người ấy và cho gọi đến.
23
Khi người quen của bà Linh Từ hớn hở đến trình diện, Trần Thủ
Độ bảo: “Ngươi vì có công chúa (tức bà Linh Từ) xin cho làm Câu
đương(*), thế thì không thể xem ngươi như những Câu đương khác.
Do đó, phải chặt một ngón chân của ngươi để phân biệt”. Người
ấy hoảng hồn, van xin không nhận chức để khỏi bị chặt ngón chân.
Từ đó, không ai dám nhờ ông can thiệp cho việc riêng tư nữa.
* Một chức ở trong xã.
24
Thái sư Trần Thủ Độ còn là người đề cao trật tự, pháp luật trong
nước và chính ông rất gương mẫu thực hiện. Có lần bà Linh Từ
ngồi kiệu định đi qua chỗ cấm thì bị một người quân hiệu(*) chặn
lại. Rất tức giận nhưng không làm gì được, bà đành phải về nhà
than vãn với chồng: “Mụ này làm vợ ông mà bọn quân hiệu lại
dám khinh nhờn như thế ư?”.
* Người lính có nhiệm vụ bảo vệ trật tự.
25
Trần Thủ Độ lập tức sai quân đi bắt người quân hiệu ấy. Cầm
chắc cái chết trong tay, nhưng trước mặt Thái sư, người quân hiệu
vẫn cứ theo sự thực mà kể lại. Nghe xong, Trần Thủ Độ không
những không trừng phạt mà còn khen: “Ngươi ở chức thấp mà
biết giữ phép nước như thế, ta còn trách gì nữa”. Nói đoạn, ông
đem vàng bạc ra thưởng cho anh ta.
26
Việc làm của Trần Thủ Độ khiến nhiều người nể phục, vì thế
luật lệ, phép tắc trong triều được tuân thủ nghiêm túc. Nhưng cũng
có người thấy quyền lực của Thái sư quá lớn nên lo lắng tâu với
vua Trần Thái Tông: “Nay bệ hạ đang tuổi nhỏ mà Trần Thủ Độ
lại chuyên quyền, thì việc xã tắc tính thế nào?”.
27
Nghe vua nói lại, Trần Thủ Độ chẳng hề bất bình. Ông tâu:
“Kẻ kia nói vậy mà đúng. Thật là có chuyện chuyên quyền. Trong
đám quan lại, chỉ có người này là ngay thẳng, bạo dạn, dám nói
thật. Vậy muốn cho triều đại thịnh vượng thì phải khuyến khích
người nói thật”. Rồi ông xin phép vua đem lụa và tiền thưởng
cho người này.
28
Nhưng đôi khi, vì quyền lợi của dòng họ, Trần Thủ Độ cũng
có những việc làm thái quá. Đó là vào năm Đinh Dậu (1237),
vua Thái Tông đã 20 tuổi mà Hoàng hậu vẫn chưa sinh nở. Việc
không con đe dọa đến sự bền vững của ngai vàng. Bởi vậy, Trần
Thủ Độ ép vua phải phế Chiêu Thánh, rước vợ của Trần Liễu là
Thuận Thiên khi ấy đã có mang ba tháng, về lập làm Hoàng hậu
để cho vua có người nối dõi.
29
Trần Liễu bèn tụ tập quân lính nổi loạn ở sông Cái (sông Hồng)
còn vua thì bất bình, đang đêm một mình một ngựa lẻn trốn khỏi
thành nhằm núi Yên Tử mà đến. Khi tới Phả Lại, con ngựa đuối
sức, nhà vua liền bỏ ngựa, đi bộ. Mấy ngày sau mới lên được chùa
Phù Vân trên núi Yên Tử. Sư trụ trì chùa vốn là bạn cũ của nhà
vua, nên ngài ở lại đấy.
30
Trần Thủ Độ biết tin, đem quần thần đi đón.
Vua không chịu về, bảo: “Trẫm còn nhỏ dại,
không kham nổi việc trọng đại, phụ hoàng đã
vội lìa bỏ, sớm mất chỗ trông cậy, không dám
ở ngôi vua để làm nhục xã tắc”. Cố nài hai, ba
lần, nhà vua không chịu về. Thái sư bèn bảo mọi
người: “Xa giá ở đâu là triều đình ở đấy”. Rồi
sai cắm mốc, chăng dây, chia địa hình trong núi,
phỏng theo kích thước cung điện ở kinh thành
mà bắt thợ xây dựng.
31
Sư trụ trì thấy thế, tâu với nhà vua: “Bệ hạ nên gấp về kinh sư,
chớ để hại núi rừng của đệ tử”. Vua Trần Thái Tông không còn
cách nào, buộc lòng phải hồi cung.
32
Còn Trần Liễu cũng biết sức mình thế cô không chống chọi
được với người chú họ mưu lược và quyết đoán, nên một hôm
nhân lúc nhà vua đi chơi thuyền ở ngoài sông, ông giả dạng làm
người đánh cá, đi thuyền độc mộc đến xin hàng.
33
Hai anh em đang ôm nhau
khóc ròng thì Trần Thủ Độ nghe
tin, vội kéo quân đến thẳng
thuyền vua, rút gươm ra thét to:
- Giết chết tên giặc Liễu!
34
Nhà vua vội vàng đưa thân mình ra che chở cho anh trai và
phân trần:
- Phụng Càn vương (tên hiệu của Trần Liễu) đến hàng đó thôi.
Trần Thủ Độ tức lắm nhưng cũng không dám làm gì đành ném
gươm xuống sông, thốt lên:
- Thủ Độ này chỉ là con chó săn thôi, biết đâu sự thuận nghịch
của anh em nhà vua.
35
Nhà vua hòa giải để Trần Thủ Độ bãi binh rồi cấp cho Trần
Liễu vùng đất An Sinh (nằm ở hai huyện Đông Triều và Yên
Hưng, tỉnh Quảng Ninh ngày nay) để làm bổng lộc và phong ông
làm An Sinh vương. Tuy vậy, Trần Liễu vẫn ngầm mang nỗi oán
hận trong lòng. Mâu thuẫn này khiến trong hoàng tộc có nhiều
chia rẽ và phải đến đời con Trần Liễu là Hưng Đạo vương Trần
Quốc Tuấn mới được cởi bỏ.
36
Lúc này vua Trần Thái Tông đã đảm đương được việc triều
chính. Ngài tỏ ra là một vị minh quân, quyết định mọi việc trong
nước một cách sáng suốt. Nhà vua còn là người rất gan dạ. Vào
năm Tân Sửu (1241) vua thân chinh đi tuần ở biên giới bằng đường
thủy. Đến địa giới của nhà Tống, nhà vua bỏ thuyền lớn, dùng ba
thuyền nhỏ là Kim Phượng, Nhật Quang, Nguyệt Quang để thâm
nhập vào đất Tống.
37
Nhà vua tự xưng là chàng Chay (người thanh niên ăn chay
trường) và đi vào tận châu Khâm, châu Liêm(*). Thoạt tiên, dân
địa phương không biết là ai nên hoảng sợ bỏ chạy. Khi biết đấy
là vua nước Đại Việt, họ bèn chăng dây xích ngang dòng sông
để chặn đường trở về của thuyền vua. Vua không những không
nao núng còn sai quân lính nhổ cọc, tháo xích rồi ung dung theo
đường cũ về nước.
* Xem tập Lý Thường Kiệt.
38
Trần Thủ Độ vẫn tiếp tục giúp vua rất đắc lực. Vua tôi đều một
lòng lo cho đất nước, nhờ thế mà Đại Việt đã ổn định và ngày một
hưng thịnh. Nhà Trần vẫn giữ lệ cử hành lễ thề ở đền thờ thần Đồng
Cổ như dưới triều Lý để buộc các quan phải trung thành với triều
đình. Thái sư cho giữ nguyên ngày thề với các nghi thức cũ. Đó
là ngày mồng 4 tháng tư âm lịch hàng năm. Hôm ấy, trăm quan
ăn mặc chỉnh tề, đứng ngoài cửa thành từ lúc gà gáy cho đến mờ
sáng thì tiến vào triều.
39
Vua đã ngự sẵn ở điện Đại Minh. Trăm quan lần lượt vào lễ
vua hai lạy rồi cùng với đội nghi trượng rầm rộ ra cửa tây kinh
thành để đến đền Đồng Cổ. Khi các quan quỳ trước đài thờ thần,
quan Trung thư Kiểm chính đọc lời thề rằng: “Làm tôi phải tận
trung, làm quan phải thanh bạch, ai trái lời thề này thì thần minh
hại người ấy” rồi cùng nhau uống máu ăn thề.
40
Lời thề đọc xong, quan Tể
tướng sai đóng cửa lại để điểm
danh. Người nào vắng mặt thì
phạt 5 quan tiền(*). Ngày hôm
ấy con trai con gái từ khắp nơi,
chen vai thích cánh kéo về kinh
đô để xem lễ thề, để chiêm
ngưỡng trăm quan trong những
bộ nhung phục rực rỡ và cũng
để vui chơi hội hè. Dần dà ngày
cử hành lễ thề thần Đồng Cổ
cũng là ngày hội của dân chúng.
(*) Dưới thời Lý thì phạt đánh 50
trượng.
41
Triều đại nhà Trần đặc biệt ưu đãi giới quý tộc họ Trần. Chỉ có
người họ Trần mới được giữ những chức vụ quan trọng và chính
nhờ thế mà quyền lực của triều đại ngày càng chặt chẽ. Quý tộc
họ Trần đóng vai trò hoàn toàn quyết định trong bộ máy quan lại
và quân đội. Họ còn được cấp đất lập những thái ấp rộng lớn và
có một số lượng gia nô đông đảo.
42
Các quan lại khác đều có lương và ruộng đất, nhưng ruộng đất
của quan lại có quy mô nhỏ. Hệ thống quan lại được định chế rõ
ràng. Cấp quan cao nhất là Tam công, Tam thiếu, Thái úy, Tư mã,
Tư đồ, Tư không. Ở dưới là các quan văn võ chia làm hai: Quan
nội chức làm ở các bộ tại triều và quan ngoại chức làm việc tại
các địa phương. Cứ 15 năm thì các quan được lên chức một lần.
43
Từ năm 1242, nước Đại Việt được chia làm 12 lộ(*). Mỗi lộ
có quan cai trị là An Phủ sứ. Giúp việc cho An Phủ sứ là Chánh
Phủ sứ và Phó Phủ sứ. Dưới lộ là phủ, châu, huyện do các quan
Đại Tư xã hay Tiểu Tư xã trông coi. Quan Đại Tư xã phải từ ngũ
phẩm trở lên, còn quan Tiểu Tư xã thì từ lục phẩm trở xuống.
Đơn vị dưới cùng là làng xã do Xã quan quản lý, gồm Xã chính,
Xã sử và Xã giám.
(*) Tương đương với tỉnh ngày nay.
44
Tổ chức quân đội thời Trần có một bước tiến đáng kể so với
trước. Đặc biệt số lượng quân thường trực khá lớn, có thể đến
20.000 người. Quân triều đình gồm cấm quân và quân địa phương
(quân các lộ). Giống như các thời Đinh, Lý trước, cấm quân (quân
cấm vệ) thời Trần cũng là lực lượng chủ yếu trong quân đội nhà
Trần, có nhiệm vụ bảo vệ vua và triều đình. Quân này được tuyển
chọn cẩn thận từ các hương ấp quê hương họ Trần nên hết sức
trung thành.
45
Quân địa phương có nhiệm vụ bảo vệ các lộ và tham chiến trận
khi có chiến tranh. Ngoài cấm quân và quân các lộ, nhà Trần cũng
có các lực lượng vũ trang của các nhà quý tộc lớn để bảo vệ điền
trang, thái ấp của mình và tham gia chiến đấu bảo vệ đất nước
khi cần. Đáng chú ý là số lượng này khá lớn, một vương hầu có
thể có hàng ngàn quân.
46
Như triều Lý, nhà Trần cũng thi hành chính sách “ngụ binh ư
nông”. Tất cả dân tráng trong nước đều phải đi lính. Số quân binh
dịch này được phiên chế thành đô, ngũ(*) để luyện tập, hết hạ lại
trở về làm ruộng, khi nào có việc mới điều động.
* Một ngũ gồm 5 người, 10 ngũ là một đô.
47
Quân đội nhà Trần đã bắt đầu có sự phân biệt giữa quân thủy
và quân bộ. Ngoài ra còn có cả đội tượng binh và kỵ binh. Binh
lính được tập luyện kỹ lưỡng, có trật tự và chặt chẽ và quyết tâm
cao trước kẻ thù. Còn các tướng thì không chỉ tinh thông võ nghệ
mà còn giỏi cả binh pháp. Chính vì vậy, quân đội nhà Trần không
chỉ có lực lượng mạnh mà còn có kỹ thuật chiến đấu khá cao.
48
 





