TRÍCH DẪN TRONG SÁCH

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    TG07.jpg Picture21.jpg Picture3.jpg

    VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

    CẨM NANG KIẾN THỨC THÚ VỊ

    GỐC VẠN ĐIỀU HAY HỌC TỐT NGAY

    💕💕CHÀO MỪNG NĂM HỌC MỚI 2025-2026💕💕

    Giới thiệu sách tháng 9/2025, chủ đề: An toàn giao thông

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Lịch sử Việt Nam bằng tranh 21- Thành lập nhà Trần

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Phương
    Ngày gửi: 19h:26' 17-11-2024
    Dung lượng: 5.9 MB
    Số lượt tải: 6
    Số lượt thích: 0 người
    Tái bản lần thứ 9

    Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
    Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Văn Đoàn - Lâm Chí Trung
    Biên tập hình ảnh: Lương Trọng Phúc

    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
    General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data

    Thành lập nhà Trần / Trần Bạch Đằng chủ biên ; họa sĩ Nguyễn Đức Hòa. - Tái bản lần
    thứ 9. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2013.
    112 tr. : minh họa ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.21).
    1. Việt Nam — Lịch sử — Sách tranh. 2. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Trần, 12251400 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    1. Vietnam — History — Pictorial works. 2. Vietnam — History — Trần dynasty, 12251400 — Pictorial works.
    959.7024 — dc 22
    T367

    LỜI GIỚI THIỆU
    Khi nhà Lý suy yếu, nhà Trần với sự phù trợ của Trần Thủ
    Độ đã thực hiện cuộc chuyển giao quyền lực ít đổ máu nhất
    trong lịch sử nước ta từ nhà Lý sang nhà Trần. Nhà Trần bắt
    đầu khi vua Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần
    Cảnh, cũng chính là vua Trần Thái Tông – vị vua đầu tiên của
    nhà Trần và chấm dứt hoàn toàn vai trò của triều Lý trong lịch
    sử nước ta vào năm 1225.
    Ở buổi đầu thành lập nhà Trần, không thể nào không nhắc
    đến vai trò của Thái sư Trần Thủ Độ. Tuy không đỗ đạt khoa cử,
    ông đã giúp nhà Trần bình phục được giặc giã trong nước, giúp
    cho Đại Việt bấy giờ được cường thịnh trở lại sau hồi suy yếu
    cuối thời Lý, và tạo nền tảng về sức lực và tinh thần trong cuộc
    xâm lược của quân Mông Cổ, bảo vệ sự tồn vong của cả một
    dân tộc đang đứng trước nguy cơ bị san bằng. Dầu có cả công
    và tội, dẫu tội to hay công lớn, nhưng lịch sử vẫn mãi lưu danh
    ông là một bậc đại thần luôn hết lòng tận trung, vì dân vì nước.
    Những nội dung trên được truyền tải trong tập 21 của bộ
    Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Thành lập nhà Trần” phần lời
    do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn
    Đức Hòa thể hiện.
    Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 21 của bộ
    Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    3

    Sử nước ta đã chép về đức độ Thái sư Trần Thủ Độ
    như sau:
    “Thái Tông thường có ý muốn cho anh Thủ Độ là An
    Quốc làm Tể tướng. Thủ Độ từ chối nói rằng: “An Quốc
    là anh tôi, nếu bệ hạ thấy là người hiền tài, thì tôi xin từ
    chức để nhường cho anh tôi, nếu bệ hạ thấy không phải
    là người hiền tài thì không nên dùng, chứ nếu cả hai anh
    em cùng làm tướng, thì đối với thiên hạ còn ra thế nào?”.
    Do đó Thái Tông mới bỏ đi ý nghĩ đó.”
    (Khâm định Việt sử thông giám cương mục
    chính biên, quyển VII)

    4

    Vào cuối triều Lý, Đại Việt gặp cảnh rối ren. Trong nước thì
    loạn lạc bởi vua Lý Huệ Tông thường xuyên đau yếu và tính tình
    lại nhu nhược nên không trông coi việc triều chính. Bên ngoài,
    các nước Chiêm Thành, Chân Lạp hay đem quân sang quấy nhiễu.
    Còn ở phương bắc, đế quốc Mông Cổ đang trở nên lớn mạnh và
    bành trướng khắp từ Âu sang Á, trở thành nguy cơ cho các nước
    ở phương nam trong đó có nước Tống (Trung Quốc), Đại Lý (Vân
    Nam) và Đại Việt.

    5

    Lúc này, họ Trần đã nắm giữ mọi chức vụ trọng yếu trong
    triều(*). Đến năm 1224, vua Lý Huệ Tông đi tu, nhường ngôi lại
    cho người con gái mới bảy tuổi là Lý Phật Kim. Đó là Lý Chiêu
    Hoàng, vua cuối cùng của nhà Lý.
    * Xem Nhà Lý suy vong.

    6

    Quan Điện tiền Chỉ huy sứ là Trần Thủ Độ xếp đặt cho Lý
    Chiêu Hoàng lấy cháu ruột của mình là Trần Cảnh lúc đó cũng
    vừa bảy tuổi. Năm sau, Trần Thủ Độ dàn cảnh để Lý Chiêu Hoàng
    nhường ngôi lại cho chồng (1225). Như vậy, triều Lý chấm dứt
    với 9 đời vua trị vì (kể cả Lý Chiêu Hoàng), kéo dài 216 năm.
    * Trước đó đã gả chị của Chiêu Hoàng là Thuận Thiên cho anh của Trần
    Cảnh là Trần Liễu.

    7

    Trần Cảnh lên làm vua tức Trần Thái Tông. Chiêu Hoàng được
    phong làm Hoàng hậu, gọi là Chiêu Thánh. Còn Trần Thủ Độ lên
    làm Thái sư. Vua Trần Thái Tông sinh năm 1218 và mất vào năm
    1277. Sử cũ chép rằng nhà vua rất khôi ngô, mũi cao, nét uy nghi,
    dáng đường bệ. Tư chất vua lại thông minh và tính tình thì gan dạ.

    8

    Dù là vua đầu tiên của một triều đại, nhưng Trần Cảnh không
    có miếu hiệu là Thái Tổ mà là Thái Tông. Lý do vì cha ruột của
    vua là Trần Thừa vẫn còn sống và làm quan trong triều với chức
    Phụ quốc Thái úy. Sau khi Trần Cảnh lên làm vua, Trần Thừa
    được tôn làm Thượng hoàng. Vì vua Trần chỉ mới tám tuổi nên
    không thể định đoạt được chính sự. Bởi vậy, mọi quyền hành đều
    nằm trong tay Trần Thừa và nhất là Thái sư Trần Thủ Độ.
    9

    Thượng hoàng Trần Thừa có quyền quyết định đối với những
    việc lớn của đất nước. Ông có cung riêng, được gọi là cung Phụng
    Thiên. Vai trò chủ yếu của ông trong triều đình là giúp đỡ vua trẻ
    trong việc triều chính, còn Trần Thủ Độ lo việc dẹp yên các cuộc
    nổi loạn đang xảy ra ở nhiều nơi trong nước.

    10

    Theo truyền thuyết, Thượng hoàng Trần Thừa lúc nhỏ sống
    trong cảnh hàn vi, thường hay đến các đình trạm(*) để ngủ. Một
    hôm, Trần Thừa mơ thấy một nhà sư đến bảo rằng: “Người trẻ
    tuổi này ngày sau phải đại quý”. Tỉnh dậy thì không thấy ai cả.
    Bây giờ được ở ngôi cao sang, Trần Thừa nhớ lại giấc mộng cũ,
    bèn xuống chiếu ra lệnh cho tất cả các đình trạm đều phải đúc
    tượng Phật mà thờ.
    * Thuở ấy, nước Đại Việt có rất nhiều đình trạm để cho người đi đường trú
    mưa, trú nắng.

    11

    Trần Thừa nhiếp chính cho vua Trần Thái Tông được 9 năm
    thì mất (1234), chỉ còn Trần Thủ Độ quyết đoán mọi việc cho đến
    khi vua trưởng thành. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại rằng:
    “Trần Thủ Độ tuy không có học vấn nhưng tài lược hơn người”.
    Ông đã củng cố thế lực nhà Trần bằng những biện pháp cứng rắn.

    12

    Trước hết, Trần Thủ Độ tìm mọi cách để loại bỏ ảnh hưởng
    của nhà Lý. Tuy rằng nhà Trần đã nắm ngôi báu nhưng trong dân
    chúng vẫn còn kẻ nhớ tiếc triều cũ. Vì thế, khi Lý Huệ Tông rời
    chùa, lang thang ra chợ, có nhiều người ra đón gặp và khóc thương.

    13

    Trần Thủ Độ chứng kiến được cảnh đó nên ép Lý Huệ Tông
    vào tu ở chùa Chân Giáo nằm sâu trong vòng hoàng cung, nhằm
    tách biệt vua cũ với dân chúng. Ít lâu sau, Thủ Độ lại bức ông phải
    tự xử. Hoàng hậu vua Lý là Trần Thị Dung bị giáng làm Thiên
    Cực Công chúa (sau trở thành vợ Trần Thủ Độ, được phong là
    Linh Từ Quốc mẫu).

    14

    Các tướng lĩnh trung thành với nhà Lý
    cũng bị Trần Thủ Độ tìm cách tiêu diệt.
    Số trốn thoát thì thay tên đổi họ, sống mai
    danh ẩn tích. Đặc biệt có hoàng tử Lý Long
    Tường cùng gia quyến mang binh thuyền
    vượt biển để tránh sự truy bức. Sau bao
    ngày lênh đênh vất vả, thuyền cập xứ Cao
    Ly, tức bán đảo Triều Tiên ngày nay.

    15

    Ngoài ra, để không còn ai mang họ Lý nữa, Trần Thủ Độ lấy
    cớ Lý là tên của ông Trần Lý, tổ phụ họ Trần và là ông nội của
    vua Trần Thái Tông, nên người nào mang họ Lý, dù không phải
    là thân thích của triều cũ, cũng phải đổi thành họ Nguyễn để tránh
    phạm húy.

    16

    Tuy vậy, Trần Thủ Độ là người rất có công trong việc dẹp loạn
    và chấn hưng đất nước. Bấy giờ, một số thế lực ở các địa phương
    nổi lên cát cứ, đặc biệt có Đoàn Thượng ở Hồng Châu (Hải Dương)
    và Nguyễn Nộn ở Bắc Giang là nguy hiểm nhất. Thủ Độ điều
    động quân lính đi đánh dẹp. Thấy hai thế lực này còn mạnh, ông
    thay đổi chiến lược, không dùng quân sự để đàn áp mà thực hiện
    chính sách chiêu dụ và chia rẽ.

    17

    Trần Thủ Độ xin vua phong Nộn làm Hoài Đạo vương, cho cai
    quản một số huyện ở Bắc Giang. Đồng thời, cũng phong vương
    cho Thượng và định ngày làm lễ thề. Tuy thế, vào ngày định ước,
    Thượng không đến dự lại còn xây thành đắp lũy, đào hào, bắt
    dân làm lính, tự mình làm chủ một cõi ở Hồng Châu, không chịu
    phục tùng ai.

    18

    Nguyễn Nộn thấy thế đem quân đến đánh, giết chết Đoàn
    Thượng thu nạp hết quân lính, của cải. Cả vùng Hồng châu bị
    cướp bóc, tàn phá. Con của Thượng không thể chống đỡ, phải
    quy hàng. Từ đấy thanh thế của Nguyễn Nộn ngày càng lừng lẫy.
    Trước tình thế ấy, Thái sư Trần Thủ Độ hết sức lo lắng.

    19

    20

    Lấy cớ Nguyễn Nộn chiến thắng được Đoàn Thượng, Trần Thủ
    Độ cho người mang thư đến mừng, lại đem Công chúa Ngoạn
    Thiềm gả cho Nộn với mục đích dùng nàng để dò la tình hình.
    Dường như biết được ý định ấy, Nguyễn Nộn sai lính dựng cho
    công chúa một cung riêng biệt để ở. Vì thế Ngoạn Thiềm cũng
    không nghe ngóng được chuyện gì.

    21

    Đắc thắng, Nguyễn Nộn tự xưng là Đại Thắng vương và sa
    vào tửu sắc. Tuy thế, Nộn cũng biết là phải phục tùng nhà Trần
    nên xin hẹn ngày vào chầu vua Thái Tông, không may hôm ấy lại
    lâm bệnh nặng, không thể vào được. Trần Thủ Độ cho người đến
    viếng thăm. Nguyễn Nộn giấu bệnh, cố gượng dậy ăn cơm và phi
    ngựa trước mặt sứ giả để tỏ ra mình vẫn khỏe mạnh, nhưng mấy
    ngày sau thì mất.

    22

    Từ đấy trong nước hết loạn lạc. Trần Thủ Độ rảnh tay xây
    dựng cơ đồ và tỏ ra là người công bằng, thao lược. Để kiểm soát
    hộ khẩu trong nước, ông đặt ra lệ ghi chép danh sách dân gian tại
    các thôn xã vào sổ. Sử cũ ghi rằng, trong một lần duyệt hộ khẩu,
    bà Linh Từ, vợ của Trần Thủ Độ, muốn xin cho người quen của
    mình làm một chức trong xã. Ông bèn ghi tên họ, quê quán của
    người ấy và cho gọi đến.
    23

    Khi người quen của bà Linh Từ hớn hở đến trình diện, Trần Thủ
    Độ bảo: “Ngươi vì có công chúa (tức bà Linh Từ) xin cho làm Câu
    đương(*), thế thì không thể xem ngươi như những Câu đương khác.
    Do đó, phải chặt một ngón chân của ngươi để phân biệt”. Người
    ấy hoảng hồn, van xin không nhận chức để khỏi bị chặt ngón chân.
    Từ đó, không ai dám nhờ ông can thiệp cho việc riêng tư nữa.
    * Một chức ở trong xã.

    24

    Thái sư Trần Thủ Độ còn là người đề cao trật tự, pháp luật trong
    nước và chính ông rất gương mẫu thực hiện. Có lần bà Linh Từ
    ngồi kiệu định đi qua chỗ cấm thì bị một người quân hiệu(*) chặn
    lại. Rất tức giận nhưng không làm gì được, bà đành phải về nhà
    than vãn với chồng: “Mụ này làm vợ ông mà bọn quân hiệu lại
    dám khinh nhờn như thế ư?”.
    * Người lính có nhiệm vụ bảo vệ trật tự.

    25

    Trần Thủ Độ lập tức sai quân đi bắt người quân hiệu ấy. Cầm
    chắc cái chết trong tay, nhưng trước mặt Thái sư, người quân hiệu
    vẫn cứ theo sự thực mà kể lại. Nghe xong, Trần Thủ Độ không
    những không trừng phạt mà còn khen: “Ngươi ở chức thấp mà
    biết giữ phép nước như thế, ta còn trách gì nữa”. Nói đoạn, ông
    đem vàng bạc ra thưởng cho anh ta.

    26

    Việc làm của Trần Thủ Độ khiến nhiều người nể phục, vì thế
    luật lệ, phép tắc trong triều được tuân thủ nghiêm túc. Nhưng cũng
    có người thấy quyền lực của Thái sư quá lớn nên lo lắng tâu với
    vua Trần Thái Tông: “Nay bệ hạ đang tuổi nhỏ mà Trần Thủ Độ
    lại chuyên quyền, thì việc xã tắc tính thế nào?”.

    27

    Nghe vua nói lại, Trần Thủ Độ chẳng hề bất bình. Ông tâu:
    “Kẻ kia nói vậy mà đúng. Thật là có chuyện chuyên quyền. Trong
    đám quan lại, chỉ có người này là ngay thẳng, bạo dạn, dám nói
    thật. Vậy muốn cho triều đại thịnh vượng thì phải khuyến khích
    người nói thật”. Rồi ông xin phép vua đem lụa và tiền thưởng
    cho người này.

    28

    Nhưng đôi khi, vì quyền lợi của dòng họ, Trần Thủ Độ cũng
    có những việc làm thái quá. Đó là vào năm Đinh Dậu (1237),
    vua Thái Tông đã 20 tuổi mà Hoàng hậu vẫn chưa sinh nở. Việc
    không con đe dọa đến sự bền vững của ngai vàng. Bởi vậy, Trần
    Thủ Độ ép vua phải phế Chiêu Thánh, rước vợ của Trần Liễu là
    Thuận Thiên khi ấy đã có mang ba tháng, về lập làm Hoàng hậu
    để cho vua có người nối dõi.

    29

    Trần Liễu bèn tụ tập quân lính nổi loạn ở sông Cái (sông Hồng)
    còn vua thì bất bình, đang đêm một mình một ngựa lẻn trốn khỏi
    thành nhằm núi Yên Tử mà đến. Khi tới Phả Lại, con ngựa đuối
    sức, nhà vua liền bỏ ngựa, đi bộ. Mấy ngày sau mới lên được chùa
    Phù Vân trên núi Yên Tử. Sư trụ trì chùa vốn là bạn cũ của nhà
    vua, nên ngài ở lại đấy.

    30

    Trần Thủ Độ biết tin, đem quần thần đi đón.
    Vua không chịu về, bảo: “Trẫm còn nhỏ dại,
    không kham nổi việc trọng đại, phụ hoàng đã
    vội lìa bỏ, sớm mất chỗ trông cậy, không dám
    ở ngôi vua để làm nhục xã tắc”. Cố nài hai, ba
    lần, nhà vua không chịu về. Thái sư bèn bảo mọi
    người: “Xa giá ở đâu là triều đình ở đấy”. Rồi
    sai cắm mốc, chăng dây, chia địa hình trong núi,
    phỏng theo kích thước cung điện ở kinh thành
    mà bắt thợ xây dựng.

    31

    Sư trụ trì thấy thế, tâu với nhà vua: “Bệ hạ nên gấp về kinh sư,
    chớ để hại núi rừng của đệ tử”. Vua Trần Thái Tông không còn
    cách nào, buộc lòng phải hồi cung.

    32

    Còn Trần Liễu cũng biết sức mình thế cô không chống chọi
    được với người chú họ mưu lược và quyết đoán, nên một hôm
    nhân lúc nhà vua đi chơi thuyền ở ngoài sông, ông giả dạng làm
    người đánh cá, đi thuyền độc mộc đến xin hàng.
    33

    Hai anh em đang ôm nhau
    khóc ròng thì Trần Thủ Độ nghe
    tin, vội kéo quân đến thẳng
    thuyền vua, rút gươm ra thét to:
    - Giết chết tên giặc Liễu!

    34

    Nhà vua vội vàng đưa thân mình ra che chở cho anh trai và
    phân trần:
    - Phụng Càn vương (tên hiệu của Trần Liễu) đến hàng đó thôi.
    Trần Thủ Độ tức lắm nhưng cũng không dám làm gì đành ném
    gươm xuống sông, thốt lên:
    - Thủ Độ này chỉ là con chó săn thôi, biết đâu sự thuận nghịch
    của anh em nhà vua.

    35

    Nhà vua hòa giải để Trần Thủ Độ bãi binh rồi cấp cho Trần
    Liễu vùng đất An Sinh (nằm ở hai huyện Đông Triều và Yên
    Hưng, tỉnh Quảng Ninh ngày nay) để làm bổng lộc và phong ông
    làm An Sinh vương. Tuy vậy, Trần Liễu vẫn ngầm mang nỗi oán
    hận trong lòng. Mâu thuẫn này khiến trong hoàng tộc có nhiều
    chia rẽ và phải đến đời con Trần Liễu là Hưng Đạo vương Trần
    Quốc Tuấn mới được cởi bỏ.

    36

    Lúc này vua Trần Thái Tông đã đảm đương được việc triều
    chính. Ngài tỏ ra là một vị minh quân, quyết định mọi việc trong
    nước một cách sáng suốt. Nhà vua còn là người rất gan dạ. Vào
    năm Tân Sửu (1241) vua thân chinh đi tuần ở biên giới bằng đường
    thủy. Đến địa giới của nhà Tống, nhà vua bỏ thuyền lớn, dùng ba
    thuyền nhỏ là Kim Phượng, Nhật Quang, Nguyệt Quang để thâm
    nhập vào đất Tống.

    37

    Nhà vua tự xưng là chàng Chay (người thanh niên ăn chay
    trường) và đi vào tận châu Khâm, châu Liêm(*). Thoạt tiên, dân
    địa phương không biết là ai nên hoảng sợ bỏ chạy. Khi biết đấy
    là vua nước Đại Việt, họ bèn chăng dây xích ngang dòng sông
    để chặn đường trở về của thuyền vua. Vua không những không
    nao núng còn sai quân lính nhổ cọc, tháo xích rồi ung dung theo
    đường cũ về nước.
    * Xem tập Lý Thường Kiệt.

    38

    Trần Thủ Độ vẫn tiếp tục giúp vua rất đắc lực. Vua tôi đều một
    lòng lo cho đất nước, nhờ thế mà Đại Việt đã ổn định và ngày một
    hưng thịnh. Nhà Trần vẫn giữ lệ cử hành lễ thề ở đền thờ thần Đồng
    Cổ như dưới triều Lý để buộc các quan phải trung thành với triều
    đình. Thái sư cho giữ nguyên ngày thề với các nghi thức cũ. Đó
    là ngày mồng 4 tháng tư âm lịch hàng năm. Hôm ấy, trăm quan
    ăn mặc chỉnh tề, đứng ngoài cửa thành từ lúc gà gáy cho đến mờ
    sáng thì tiến vào triều.

    39

    Vua đã ngự sẵn ở điện Đại Minh. Trăm quan lần lượt vào lễ
    vua hai lạy rồi cùng với đội nghi trượng rầm rộ ra cửa tây kinh
    thành để đến đền Đồng Cổ. Khi các quan quỳ trước đài thờ thần,
    quan Trung thư Kiểm chính đọc lời thề rằng: “Làm tôi phải tận
    trung, làm quan phải thanh bạch, ai trái lời thề này thì thần minh
    hại người ấy” rồi cùng nhau uống máu ăn thề.
    40

    Lời thề đọc xong, quan Tể
    tướng sai đóng cửa lại để điểm
    danh. Người nào vắng mặt thì
    phạt 5 quan tiền(*). Ngày hôm
    ấy con trai con gái từ khắp nơi,
    chen vai thích cánh kéo về kinh
    đô để xem lễ thề, để chiêm
    ngưỡng trăm quan trong những
    bộ nhung phục rực rỡ và cũng
    để vui chơi hội hè. Dần dà ngày
    cử hành lễ thề thần Đồng Cổ
    cũng là ngày hội của dân chúng.
    (*) Dưới thời Lý thì phạt đánh 50
    trượng.

    41

    Triều đại nhà Trần đặc biệt ưu đãi giới quý tộc họ Trần. Chỉ có
    người họ Trần mới được giữ những chức vụ quan trọng và chính
    nhờ thế mà quyền lực của triều đại ngày càng chặt chẽ. Quý tộc
    họ Trần đóng vai trò hoàn toàn quyết định trong bộ máy quan lại
    và quân đội. Họ còn được cấp đất lập những thái ấp rộng lớn và
    có một số lượng gia nô đông đảo.

    42

    Các quan lại khác đều có lương và ruộng đất, nhưng ruộng đất
    của quan lại có quy mô nhỏ. Hệ thống quan lại được định chế rõ
    ràng. Cấp quan cao nhất là Tam công, Tam thiếu, Thái úy, Tư mã,
    Tư đồ, Tư không. Ở dưới là các quan văn võ chia làm hai: Quan
    nội chức làm ở các bộ tại triều và quan ngoại chức làm việc tại
    các địa phương. Cứ 15 năm thì các quan được lên chức một lần.
    43

    Từ năm 1242, nước Đại Việt được chia làm 12 lộ(*). Mỗi lộ
    có quan cai trị là An Phủ sứ. Giúp việc cho An Phủ sứ là Chánh
    Phủ sứ và Phó Phủ sứ. Dưới lộ là phủ, châu, huyện do các quan
    Đại Tư xã hay Tiểu Tư xã trông coi. Quan Đại Tư xã phải từ ngũ
    phẩm trở lên, còn quan Tiểu Tư xã thì từ lục phẩm trở xuống.
    Đơn vị dưới cùng là làng xã do Xã quan quản lý, gồm Xã chính,
    Xã sử và Xã giám.
    (*) Tương đương với tỉnh ngày nay.

    44

    Tổ chức quân đội thời Trần có một bước tiến đáng kể so với
    trước. Đặc biệt số lượng quân thường trực khá lớn, có thể đến
    20.000 người. Quân triều đình gồm cấm quân và quân địa phương
    (quân các lộ). Giống như các thời Đinh, Lý trước, cấm quân (quân
    cấm vệ) thời Trần cũng là lực lượng chủ yếu trong quân đội nhà
    Trần, có nhiệm vụ bảo vệ vua và triều đình. Quân này được tuyển
    chọn cẩn thận từ các hương ấp quê hương họ Trần nên hết sức
    trung thành.

    45

    Quân địa phương có nhiệm vụ bảo vệ các lộ và tham chiến trận
    khi có chiến tranh. Ngoài cấm quân và quân các lộ, nhà Trần cũng
    có các lực lượng vũ trang của các nhà quý tộc lớn để bảo vệ điền
    trang, thái ấp của mình và tham gia chiến đấu bảo vệ đất nước
    khi cần. Đáng chú ý là số lượng này khá lớn, một vương hầu có
    thể có hàng ngàn quân.
    46

    Như triều Lý, nhà Trần cũng thi hành chính sách “ngụ binh ư
    nông”. Tất cả dân tráng trong nước đều phải đi lính. Số quân binh
    dịch này được phiên chế thành đô, ngũ(*) để luyện tập, hết hạ lại
    trở về làm ruộng, khi nào có việc mới điều động.
    * Một ngũ gồm 5 người, 10 ngũ là một đô.

    47

    Quân đội nhà Trần đã bắt đầu có sự phân biệt giữa quân thủy
    và quân bộ. Ngoài ra còn có cả đội tượng binh và kỵ binh. Binh
    lính được tập luyện kỹ lưỡng, có trật tự và chặt chẽ và quyết tâm
    cao trước kẻ thù. Còn các tướng thì không chỉ tinh thông võ nghệ
    mà còn giỏi cả binh pháp. Chính vì vậy, quân đội nhà Trần không
    chỉ có lực lượng mạnh mà còn có kỹ thuật chiến đấu khá cao.
    48
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS THÁI DƯƠNG - BÌNH GIANG - HẢI DƯƠNG !