Giới thiệu sách tháng 9/2025, chủ đề: An toàn giao thông
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Cuộc Kháng Chiến Chống Xâm Lược Mông Nguyên Thế Kỷ XIII - Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 14h:23' 26-04-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 14h:23' 26-04-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
“Đ
CHƯƠNG MỞ ĐẦU: VỀ CÁC NGUỒN SỬ LIỆU
ến nay dân bốn biển
Nhớ mãi năm bắt thù” ( )
Phạm Sư Mạnh
Trong những bản thảo bộ Jami al - Tawàrìkh
(Tập sử biên niên) viết bằng chữ Ba Tư của
nhà sử học nổi tiếng thế kỷ XIII Ra Sit Ut - Đin (Fazl Alah
Radsidud Din, 1247-1318), người ta đọc được những dòng
sau đây về một nước Kiafca xa xôi:
“Nước đó có những vùng khó đi lại và nhiều rừng cây, giáp
với Karajan ( ), một phần giáp Hindostan và biển.Ở đó có
hai thành thị là Lujek(?) và jesam(?). Nước đó có quốc
vương riêng, không thần phục hãn (vua Mông Cổ - T.G.)
Tugan ( ) con trai của hãn, chỉ huy đội quân của Lukin Fu ( )
để bảo vệ miền Manzi cũng như để ngăn ngừa và chống lại
những ai không khuất phục. Một lần, Tugan đem quân vào
nước đó, chiếm lấy các thành thị ven biển và thống trị ỏ đấy
trong một tuần lễ. Nhưng bỗng nhiên từ biển, từ rừng, từ
núi, xuất hiện những đội quân nước đó đánh tan đạo quân
của Tugan đang lo cướp bóc. Tugan trốn thoát và lại trở về
đóng ở Lukin-fu”
Kifaca, có bản chép là Kiefce - Kue, chính là phiên âm tên
Giao Chỉ hay Giao Chỉ quốc. Mặc dầu quá đơn giản và có
chỗ sai lầm, nhà sử học Ba Tư đã nói đến cuộc kháng chiến
của nhân dân Việt Nam chống quân Nguyên vào thế kỷ XIII.
Cuộc chiến đấu anh dũng và thần kỳ diễn ra khắp đất nước,
“từ biển, từ rừng, từ núi”, đã đánh tan bọn xâm lược Thoát
Hoan (Tô-gan) hung hãn. Hẳn chiến thắng oanh tiệt của Đại
Việt (quốc hiệu Việt Nam bấy giờ) đã có tiếng vang lớn nên
Ra Sít Ut - Đin, nhà sử học Thành Ha Ma Đan (Hamadhan) ở
tận phía tây của châu Á mới chép vào bộ sử của mình
những dòng trên.
Điều đáng tiếc là những dòng như vậy thật quá ít trong các
sử liệu thế kỷ XIII của đế quốc Mông Cổ. Muốn nghiên cứu
cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam
thế kỷ XIII, phải dựa vào hai nguồn sử liệu chủ yếu: sử liệu
Việt Nam và sử liệu Trung Quốc. Nhưng cả hai nguồn sử liệu
này đều kém phong phú.
Bộ Trung hưng thực lục đời Trần chép các chiến công chống
Nguyên nay không còn nữa ( ). Các sách binh pháp của nhà
quân sự thiên tài Trần Quốc Tuấn như Binh thư yếu lược ( ),
Vạn Kiếp tông bí truyền thư đã mất. Quyển Binh thư yếu
lược hiện có chỉ là một quyển sách giả do người đời sau
soạn. Ngay bộ Đại Việt sử ký tục biên do nhà sử học Phan
Phu Tiên soạn năm 1445 chép tiếp Đại Việt sử ký của Lê
Văn Hưu giai đoạn đầu từ đầu Trần đến Lê Lợi khởi nghĩa
cũng không tìm thấy. Hiện nay, chúng ta chỉ còn đọc được
những sử liệu về cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thế kỷ
XIII trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư của nhà sử học Ngô Sĩ
Liên soạn năm 1479. Chúng ta có thể tin chắc là khi chép
về giai đoạn lịch sử này Ngô Sĩ Liên còn có trong tay những
sử liệu đời Trần và bộ sử của Phan Phu Tiên. Vì thế, những
điều ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư thật đáng quý.
Tuy nhiên những tài liệu về cuộc kháng chiến chống Nguyên
trong Toàn thư quá sơ sài ít ỏi, nếu chỉ dựa vào đấy thì thật
là khó khăn trong việc khôi phục những trang sử vẻ vang
của dân tộc thế kỷ XIII. Đấy là chưa kể ở nhiều chỗ Ngô Sĩ
Liên đã lầm lẫn như chép rằng thuyền lương của Trương Văn
Hổ bị đắm trong trận Bạch Đằng, Nguyễn Khoái bắt được Áo
Lỗ Xích (Ayuruyci) hay Thoát Hoan (Toyan) cũng bị ta bắt (
)... Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử
quán đời Nguyễn (hoàn thành năm 1859, hiệu đính năm
1871 - 1878, in năm 1884) đã tham khảo các tài liệu Trung
Quốc như Nguyên sử, Nguyên sử loại biên, Thông giám tập
lãm để đính chính những sai lầm trên của Toàn thư. Nhưng
do thiếu thận trọng trong khi tham khảo tài liệu Trung
Quốc, Khâm định Việt sử thông giám cương mục lại mắc
những sai lầm khác. Chẳng hạn Cương mục đã chép trận
Vân Đồn xảy ra vào tháng giêng, năm Trùng Hưng thứ 4 (3
tháng 2 - 3 tháng 3 năm 1288) lúc Ô Mã Nhi (Omar) đem
thuyển đi đón Trương Văn Hổ, kỳ thực thì trận Vân Đồn xảy
ra vào tháng 12 năm Trùng Hưng thứ 3 (5 tháng 1 - 2 tháng
2 năm 1288), lúc thủy quân Nguyên tiến vào đất nước
chúng ta ( ). Sai lầm đó của Cương mục dẫn tới sai lầm của
nhiều tác phẩm hiện nay viết về vấn đề này. Những sử liệu
mới rút ra từ sách Trung Quốc do Cương mục bổ sung cũng
không được bao nhiêu. Nếu chúng ta có trong tay các thư
tịch Trung Quốc và Đại Việt sử ký toàn thư thì có thể không
cần dùng đến Cương mục, một bộ sử xuất hiện muộn, để
nghiên cứu cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thế kỷ XIII.
Trong khi viết quyển sách này, chúng tôi lấy tài liệu ở Toàn
thư mà không dựa vào Cương mục, trừ những chỗ cần so
sánh.
Hiện nay ở Thư viện Khoa học Trung ương còn có một số
sách chép tay bằng chữ Hán có liên quan đến cuộc kháng
chiến chống Nguyên như Trần Đại vương bình Nguyên thực
lục, Vạn yên thực lục, Trần triều thế phả hành trạng, Trần
gia điển tích thống biên,... Những sách này đểu là được biên
soạn về sau, phần lớn là đời Nguyễn, không có giá trị gì
mấy, thường là chép lại các tài liệu ở chính sử, hoặc thêm
thắt bằng truyền thuyết. Do đó chúng tôi rất ít dùng loại tài
liệu này.
Hiện nay chúng tôi cố tìm các bi ký thời Trần để bổ sung cho
nguồn sử liệu Việt Nam nghèo nàn về cuộc kháng chiến
oanh liệt này. Nhưng việc tìm kiếm đó chưa có kết quả mấy.
Bia công chúa Phụng Dương (vợ Trần Quang Khải) do Lê
Củng Viên soạn năm 1293 có những chi tiết liên quan đến
việc rút lui của vương triều Trần khỏi Thăng Long năm 1285
( ). Chúng tôi cũng đọc được ở bài minh khắc trên quả
chuông Thông Thánh quán Bạch Hạc năm 1321 những sử
liệu về cuộc chiến đấu của Trần Nhật Duật ở Tuyên Quang
trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (quả chuông này do
chính Trần Nhật Duật coi việc đúc). ( )
Một tác phẩm quan trọng mà chúng tôi đã sử dụng là An
Nam chí lược của Lê Trắc. Lê Trắc là môn khách của Chương
Hiến hầu Trần Kiện, đã cùng chủ đầu hàng quân Nguyên
năm 1285. Y soạn bộ sách này ở Trung Quốc vào những
năm đầu thế kỷ XIV( ). Với một lập trường rất phản động,
Lê Trắc đã để cao kẻ thù, bôi nhọ những trang sử vẻ vang
của dân tộc. Về cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, Lê
Trắc luôn luôn chép kẻ địch thắng, nhưng mặc dầu vậy, y
vẫn không che giấu nổi những thất bại nhục nhã của bọn
cướp nước và bán nước. Vì đây là tài liệu của một kẻ hàng
giặc nên phải vô cùng thận trọng khi sử dụng. Tuy vậy, An
Nam chí lược vẫn là một tài liệu rất cần thiết đối với việc
nghiên cứu cuộc kháng chiến chống Nguyên. Trong sách
này, Lê Trắc đã chép được những thư từ qua lại giữa vua
Trần và vua Nguyên cũng như thư của các sứ thần, quan lại
(q.2 Đại Nguyên chiếu chế, q.5, Đại Nguyên chư thần vãng
phục thư vấn, q.6 Biểu chương). Đấy là những tài liệu quan
trọng để nghiên cứu quan hệ ngoại giao Việt - Nguyên trong
giai đoạn đó. Những sứ bộ ngoại giao được chép trong
quyển 3 Đại Nguyên phụng sứ và quyển 14 Trần Thị khiển
sứ. Chúng ta còn có thể khai thác tài liệu về diễn biến các
trận trong quyển 4 Chinh thảo vận hướng. Lê Trắc đã chép
các sự kiện với ngày tháng rõ ràng, điều đó giúp chúng ta
có thể đối chiếu với các tài liệu khác mà khôi phục được quá
trình diễn biến các sự kiện theo trình tự thời gian. Những
tiểu truyện, thơ văn của bọn hàng giặc và ngay cả bài Tự sự
của Lê Trắc cũng cho chúng ta thấy được tinh thần khiếp
nhược, tâm trạng hoang mang của những tên bán nước và
sức chiến đấu mãnh liệt của quân dân ta. Chính vì thế,
chứng tôi đã sử dụng An Nam chí lược, coi nó là một tài liệu
cần thiết trong việc nghiên cứu cuộc kháng chiến chống
Nguyên. Tất nhiên chúng tôi không tìm ở đây những trang
tràn đầy tinh thần dân tộc như dưới ngòi bút của Ngô Sĩ
Liên mà phải tìm lại hình ảnh cuộc chiến đấu của dân tộc
qua bức màn đen của Lê Trắc. Những hình ảnh đó có chỗ
vẫn hiện lên rõ nét và sinh động. Đó là điều Lê Trắc không
muốn và không ngờ tới.
Nếu việc sử dụng An Nam chí lược gặp khó khăn do sự
xuyên tạc của Lê Trắc thì việc sử dụng các thư tịch cũ của
Trung Quốc có liên quan đến vấn đề này cũng như vậy.
Chính sử Trung Quốc xưa nhất có chép đến vấn đề này là
Nguyên sử ( ). Nguyên sử được biên soạn đầu đời Minh, do
Tống Liêm, Vương Vĩ và một số người khác (bài biểu dâng
Nguyên sử của Lý Thiện Trường đề năm 1369). Các tác giả
đã dựa vào các sử liệu thư tịch đời Nguyên còn lại ở Bắc
Kinh để viết bộ sử này. Chúng ta có thể tìm thấy những sử
liệu quan trọng liên quan đến cuộc kháng chiến chống xâm
lược Nguyên Mông rải rác trong phần Bản kỷ Hiến Tông và
Thế Tổ, trong một số truyện những viên tướng hay sứ giả ở
phần Liệt truyện và tập trung ở An Nam truyện (q.209) và
Chiêm Thành truyện (q.210) ( ). Điều đáng chú ý là các tác
giả tuy là sử gia đời Minh nhưng khi viết Nguyên sử họ vẫn
đứng trên lập trường phong kiến nhà Nguyên. Đứng về mặt
phương pháp biên soạn mà nói, Nguyên sử là bộ sử kém
nhất, chứa đựng nhiều điều sai lầm và hỗn loạn nhất trong
24 bộ sử Trung Quốc. Một số người nghiên cứu lịch sử sử
học Trung Quốc đã cho rằng sở dĩ như vậy là tuy các tác giả
có sử dụng các tài liệu đời Nguyên nhưng họ đều không
hiểu tiếng Mông Cổ và phải soạn gấp trong một thời gian
quá ngắn chưa đầy một năm theo lệnh Minh Thái Tổ. ( )
Chính vì thế mà nhiều sử gia về sau đã cố gắng bổ sung
Nguyên sử. Đời Minh đã xuất hiện Nguyên sử tục biên của
Hồ Tuý Trung, Nguyên sử bị vong lục của Vương Quang Lỗ,
Nguyên sử kỷ sự bản mạt của Trần Bang Chiêm. Đến đời
Thanh càng nhiều sử gia viết lại sử Nguyên như Thiệu Viễn
Bình viết Nguyên sử loại biên (còn gọi là Tục Hoằng giản
lục), Tiên Đại Hân viết Bổ Nguyên sử thị tộc biểu, Bổ
Nguyên sử nghệ văn chí, Nguyên sử thập di... Uông Huy Tổ
viết Nguyên sử bản chứng, Nguỵ Nguyên viết Nguyên sử
tân biên, Hồng Quân viết Nguyên sử dịch văn chứng bổ, Đồ
Kỳ viết Mông Ngột Nhi sử, Kha Thiệu Mân viết Tân Nguyên
sử... Các sử gia trên đã tìm tòi thêm nhiều tài liệu Trung
Quốc và nước ngoài để bổ sung cho lịch sử triều Nguyên ở
Trung Quốc hoặc lịch sử đế quốc Mông Cổ nói chung. Nhưng
đối với phần có liên quan đến Việt Nam thế kỷ XIII thì họ
tìm được rất ít tài liệu mới, phần lớn là chép lại Nguyên sử.
Vì thế đối với loại tài liệu này chúng tôi ít dẫn dụng, trừ
những điều không chép trong Nguyên sử. Ngay đối với
nhũng điều đó, chúng tôi cũng chỉ dùng sau khi đã phân
tích hay đối chiếu với các tài liệu khác vì lý do là các quyển
sử trên được biên soạn muộn về sau ( ).
Trong khi đó, chúng tôi chú trọng hơn đến các tài liệu khác
tuy không phải là chính sử nhưng được biên soạn vào đời
Nguyên. Một tác phẩm quan trọng là Hoàng triều kinh thế
đại điển do Triệu Thế Diên và Ngu Tập soạn năm 1330-1331
dưới sự giám sát của viên quan Mông Cổ, Đác Khan Khác
Kha Xun (Darqan Qarqasun). Đáng tiếc là bộ sách đã mất,
nay chỉ còn lại vài phần trong bộ Vĩnh Lạc đại điển. Những
sử liệu liên quan đến Việt Nam ở đây chỉ còn có đôi điều.
May mắn là bài tựa, hay nói đúng hơn là đề cương chi tiết
của bộ sách đó, với cái tên Kinh thế đại điển tự lục đã được
một tác gia đời Nguyên là Tô Thiên Tước (1294-1352) chép
lại trong bộ văn tuyển Quốc triều văn loại (còn gọi là
Nguyên văn loại) của ông. Trong mục Chinh phạt của Kinh
thế đại điển tự lục có các đoạn An Nam và Chiêm Thành.
Đoạn An Nam tuy sơ lược nhưng bổ sung thêm một số tài
liệu về cuộc kháng chiến chống Nguyên của nhân dân Việt
không có trong Nguyên sử. Đoạn Chiêm Thành có nhiều tài
liệu tốt, đặc biệt là chép rõ ngày tháng quá trình diễn biến
cuộc kháng chiến của nhân dân Chàm, bổ sung được nhiều
điểm cho Nguyên sử Chiêm Thành truyện.
Các sách do sứ Nguyên đã đến Việt Nam soạn là những tài
liệu tốt để nghiên cứu tình hình Việt Nam và quan hệ ngoại
giao lúc bấy giờ. Trong số các tác phẩm đó, chứng ta phải
kể đến Thiên Nam hành ký (hay An Nam hành ký) của Từ
Minh Thiện( ). Từ Minh Thiện đến Thăng Long năm 1289.
Trong Thiên Nam hành ký, Từ Minh Thiện đã chép được một
số thư từ trao đổi giữa vua Việt và vua Nguyên mà An Nam
chí lược chép không đầy đủ hay không chép. Một tài liệu
quý nữa là Trần Cương - trung thi tập của Trần Phu. Trần
Phu đi sứ năm 1291, đến Việt Nam năm 1292( ). Tất cả
những bài thơ viết về Việt Nam đều được chép trong Giao
châu cảo tức tập 2 của Trần Cương -Trung thi ( ). Trong tập
thơ đó có những bài có chú thích cẩn thận (như bài An Nam
tức sự) là những tài liệu hiếm dùng để nghiên cứu kinh tế
xã hội Việt Nam thế kỷ XIII, một số bài khác nói lên sự
hoảng sợ lo lắng của bọn sứ Nguyên ở Việt Nam (như bài
Giao châu sứ hoàn cảm sự), một số bài có thể dùng làm tài
liệu để xét một số địa danh hay ngày tháng (như bài Tư
Minh cháu nguyên nhật, bài Ngày mồng 3 tháng 2 trú ở
trạm Khâu Ôn thấy trăng mới giữa trời...). Cuối Trần Cương
Trung thi tập còn có một phần phụ lục Nguyên phụng sứ dữ
An Nam quốc vãng phục thư chép lại 8 bức thư trao đổi giữa
Lương Tằng, Trần Phu và vua Trần Nhân Tông.
Ngoài những thư tịch trên, chúng tôi đặc biệt chú ý đến các
bi ký soạn đòi Nguyên có liên quan đến vấn đề đang nghiên
cứu. Một số bi ký đà được các tác giả đưa vào trong các tập
văn thơ của mình. Trước hết chúng tôi muốn nói đến Mục
Am tập của Diêu Toại (1238-1314). Chúng ta có thể đọc.
trong đó những bi ký do ông soạn về những nhân vật có
liên quan đến cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam như mộ
chí Trương Đình Trân, tên sứ giả đến Việt Nam năm 1269,
miếu bi Lý Hằng, tên tướng đánh Việt Nam năm 1285, bia A
Lý Hải Nha (Ariq - Qaya), tên tướng chỉ huy đội quân xâm
lược Việt Nam năm 1285... Một số bi ký khác như Dĩnh châu
vạn hộ Đê công thần đạo bi (Diêu Toại soạn năm 1304)
cũng có những sử liệu về việc quân Nguyên chuẩn bị xâm
lược Chiêm Thành và Việt Nam( ).
Tô Thiên Tước (1294 - 1352) khi soạn quyển Nguyên triều
danh thần sự lược cũng đã dựa vào nhiều bi ký của các tác
giả đương thời. Trong Nguyên triều danh thần sự lược, ngoài
những tài liệu liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu, chúng
ta còn có thể đọc được một số bi ký khác như bài miếu bi A
Truật (Aju), viên tướng đã đánh vào Việt Nam năm 1258, do
Vương Vận (chết năm 1304) tác giả Thu giản văn tập soạn,
và bài bia nói về viên quan Mông Cổ là Khác Kha Xun
(Qarqasun) do Lưu Mẫn Trung (1242 - 1318) soạn. Trong
bài bia Khác Kha Xun có những sử liệu liên quan đến âm
mưu xâm lược Việt Nam của bọn phong kiến Nguyên sau
năm 1288.
Trong Từ Khê văn cảo của Tô Thiên Tước có bài bia Cô thừa
sự lang Tương Sơn huyện doãn Lý hầu mộ bi do chính Tô
Thiên Tước soạn, chép về Lý Thiên Hựu, viên quan đi theo
thuỷ quân Nguyên vào Việt Nam năm 1288, bị ta bắt ở trận
Bạch Đằng nhưng sau đó trốn thoát được. Trong bài bia đó
có những sử liệu liên quan đến các trận Tháp Sơn (Đồ Sơn),
Bạch Đằng.
Tài liệu tìm được trong các bi ký đời Nguyên tuy không phải
là phong phú lắm nhưng chúng tôi cố gắng khai thác vì
chúng được chép vào thời gian gần cuộc kháng chiến chống
Nguyên hơn là Nguyên sử. Có những bi ký tuy không thêm
được điều gì mới nhưng có thể dùng nó để xác minh những
điểu chép trong các sách khác. Ví dụ theo Nguyên sử Tín
Thư Nhật truyện thì tên vua nước Đại Lý (Vân Nam) Đoàn
Hưng Trí sau khi đầu hàng quân Mông Cổ đã đem hai vạn
quân người Thoán Bặc Vân Nam đưa quân Mông Cổ tiến vào
Việt Nam năm 1258. Điều này được chứng thực trong bài
bia chùa Đại Sùng Thánh ỏ Vân Nam do Lý Nguyên Đạo
soạn năm 1325, bia này do viên tổng quản Vân Nam là
Đoàn Long (thay Tín Thư Long), cháu Đoàn Hưng Trí dựng (
).
Trên đây là những nguồn sử liệu chủ yếu mà chúng tôi dựa
vào để nghiên cứu cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của
nhân dân Việt Nam thế kỷ XIII. Việc sử dụng các tài liệu đó
không phải là dễ dàng vì nhiều chỗ mâu thuẫn với nhau và
có những sai lầm cần phân tích phê phán. Điều khó khăn
lớn là nguồn tài liệu Việt Nam quá ít, vì thế chúng tôi khó
mà trình bày các cuộc hành quân, các trận đánh... của quân
dân ta một cách cụ thể. Dầu hết sức cố gắng, chúng tôi biết
rằng tập sách này vẫn còn nhiều thiếu sót vì trình độ của
các tác giả và vì tài liệu chưa thu thập được đầy đủ.
****
Khi sử dụng các nguồn tài liệu Việt Nam và Trung Quốc nói
trên, chúng tôi gặp rất nhiều tên nhân vật Mông Cổ và các
dân tộc khác như người A-rập, người Ui-gua (Uigur), người
Khíp Trắc (Qỹbcak), người Khang Lư (Qangli)... cũng như
tên người Hồi giáo, Cơ Đốc giáo... Những người này có liên
quan đến cuộc chiến tranh (hay ngoại giao) ỏ Việt Nam thế
kỷ XIII. Các tác phẩm nghiên cứu về cuộc kháng chiến này
trước đây thường chép tên người theo cách phiên âm Trung
Quốc (đọc bằng âm Hán Việt) như Ngột Lương Hợp Thai, A
Lý Hải Nha, Bột La Hợp Đáp Nhi,... Chúng tôi cho rằng cách
phiên âm đó dễ gây lầm lần vì trong thư tịch cũ của Trung
Quốc, một nhân vật Mông Cổ hay tộc khác được phiên âm
bằng nhiều tên khác nhau. Chẳng hạn như Nguyên sử chép
là Ngột Lương Hợp Thai, Ngột Lương Cáp Thai, Toàn thư
chép là Ngột Lương Hợp Đải, An Nam chí lược chép là Ngột
Lương Cáp Đải, Thông giám tập lãm chép là Ô Đặc Lý Cáp
Đạt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn lại chép là Cốt Đải
Ngột Lang... Ngay trong Nguyên sử, A Lý Hải Nha còn được
chép là A Lạt Hải Nha, A Lỗ Hải Nha, A Lễ Hải Nha..., còn bi
ký của Diêu Toại chép là A Lực Hải Nha. Nguyên sử cũng
chép Bột La Hợp Đáp Nhi là Bột Lỗ Hợp Đáp Nhi, trong khi
An Nam chí lược lại chép nhầm thành Lý La Hợp Đáp Nhi,
Sách La Cáp Đáp Nhi,... Cách phiên âm đời Nguyên, Minh
đã hỗn loạn, đến đời Thanh lại càng hỗn loạn hơn. Theo
lệnh của Càn Long, năm 1781, một ủy ban được thành lập
để soạn quyển Liêu Kim Nguyên tam sử ngữ giải, đem đổi
tất cả những tên phiên âm vốn có trong Liêu sử, Kim sử và
Nguyên sử thành những tên phiên âm mới.. Vì không hiểu
quy luật phiên âm đời Nguyên Minh, các tác giả quyển sách
đó đã thay đổi một cách tùy tiện và sai lầm. Ngột Lương
Hợp Thai lại được đổi thành Ô Lan Cáp Đạt, A Lý Hải Nha
đổi thành A Nhĩ Cáp Nhã,... Các bản in Nguyên sử hay các
thư tịch khác nói trên vào sau đòi Càn Long thường bị sửa
lại theo cách phiên âm mới (bộ Nguyên sử mà Khâm định
Việt sử thông giám cương mục tham khảo cũng là bộ sách
đã bị chữa theo cách phiên âm đời Thanh). Một số bộ sử
soạn đồi Thanh như Tục tư trị thông giám của Tất Nguyên
cũng theo cách phiên âm này. Do đó, việc phiên âm ngày
càng gây ra nhiều lầm lẫn. Khi đọc những tài liệu trên,
chúng ta có thể lầm một người thành hai hoặc nhiều người
khác nhau. Chẳng hạn ông Hoàng Thúc Trâm trong Trần
Hưng Đạo (Sài Gòn, 1950) ở trang 67, đã nói về A Truật, lại
nói về một người khác là A Châu, kỳ thực A Châu chỉ là tên
phiên âm đời Càn Long của A Truật (Aju).
Chúng tôi thấy rằng nếu theo cách phiên âm Trung Quốc tất
phải chọn lấy một tên trong nhiều tên khác nhau, nhưng
như vậy sẽ gây khó khăn cho người muốn tìm hiểu các sử
liệu khác nhau. Vì các lý do trên, trong quyển sách này,
chúng tôi quyết định không theo bất kỳ cách phiên âm
Trung Quốc nào mà phiên âm theo đúng tiếng Mông Cổ
trung đại (hoặc tiếng các dân tộc khác) ví dụ A Lý Hải Nha
sẽ phiên âm là A Ríc Kha Y A (Ariq - Qaya), Ngột Lương Hợp
Thai là Ư Ri Ang Kha Đai (Uriyangqadai), Bột La Hợp Đáp
Nhi và Bôn Kha Đa (Bol-qadar),... Việc khôi phục lại tên
người Mông Cổ và các tộc khác còn giúp chúng ta tránh
được các sai lầm tách tên một ngưòi thành hai người hoặc
nhập hai tên lại làm một. Chẳng hạn như Trần Trọng Kim
tách Tích Lệ Cơ Ngọc thành Tích Lệ và Cơ Ngọc( ), nhà sử
học Nhật Bản Yamamoto Tatsuro coi Hòa Lễ Hoắc Tôn là
Hoà Lễ và Hoắc Tôn ( ), các dịch giả Việt sử thông giám
cương mục đọc I Lặc Cát Đại thành I Lặc, Cát Đại ( ),...
Thực ra Tích Lệ Cơ Ngọc trong Toàn thư là chép nhầm từ
Tích Lệ Cơ Vương (theo Thiên Nam hành ký) và Tích Lệ Cơ
là Sirăgi (Si-rê-ghi), Hoà Lễ Hoắc Tôn chỉ là Qorqao-sun
(Khoóc-khô-xun), còn I Lặc Cát Đại là Ikiradai (I-ki-rê-đai),
v.v...
Việc khôi phục lại các tên Mông Cổ và các tộc khác từ những
tên phiên âm Trung Quốc không phải là dễ dàng, nhất là
cho đến nay chưa ai chuyên nghiên cứu khôi phục toàn bộ
những tên nhân vật có liên quan đến lịch sử Việt Nam. Tuy
vậy, dựa vào tính chất trùng tên nhiều của người Mông Cổ
trong các thư tịch cũ (xem Tam sử đồng danh lạc của Uông
Huy Tổ), dựa vào Hoa di dịch ngữ (1389), Nguyên sử ngữ
giải (1781), cũng như dựa vào các công trình của các nhà
Mông Cổ học thế giới như P.Pelliot (Pháp), P.Poucha (Tiệp),
M.Lewicki (Ba Lan) ( )..., chúng tôi cố gắng khôi phục lại
tên tất cả các nhân vật Mông Cổ và các tộc khác có liên
quan đến cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam thế kỷ
XIII đã nhắc đến trong quyển sách này. Những tên đó được
khôi phục lại bằng tiếng Mông Cổ trung đại theo cách ghi
âm của các nhà Mông Cổ học thế giới và sau đó phiên âm ra
chữ Việt. Đối với từng tên người, chúng tôi đều chú thích rõ
các cách phiên âm Trung Quốc ở dưới trang. Tuy vậy, có
một số tên như Hốt Tất Liệt (Qubilai), Toa Đô (Sogãtũ),Ô
Mã Nhi (`Omar), Thoát Hoan (Toyan hay Toyon), vì đã quen
với chúng ta, trong sách này chúng tôi không phiên âm
thành Xô-ghê-tu, Ô-ma hay Tô-gan nữa mà chỉ chú thích để
người đọc nắm được tên Mông Cổ của các tên tướng đó.
Một vấn đề khác được đặt ra khi nghiên cứu hai nguồn tài
liệu Việt Nam và Trung Quốc là vấn đề lịch pháp. Có tìm
hiểu và đối chiếu được lịch pháp của Việt Nam và Trung
Quốc thế kỷ XIII mới xác định được thời gian xảy ra các sự
kiện khi so sánh hai nguồn tài liệu.
Trong Bàn châu văn tập (quyển 16) của Hồng Quát đời Tống
có chép bài “Sắc thư ban lịch cho Nam Bình vương Lý Thiên
Tộ (tức Lý Anh Tông 1138 - 1175)”. Nguyên sử Bản kỷ chép
rằng ngày Giáp Tý tháng 7 năm Chí Nguyên 2 (9-9-1265)
“chiếu ban cho Quang Bính (tức Trần Thái Tông) lịch năm
Chí Nguyên thứ 3”. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng năm
Khai Thái thứ 1 (1324), “vua Nguyên sai Mã Hợp Mưu
(Mahmùd), Dương Tông Thụy sang báo việc lên ngôi và cho
một quyển lịch Thụ Thì” (q.6, t.42b). Đến năm Khai Hựu thứ
11 (1339), Đặng Lộ mới xin đổi lịch Thụ Thì trước đó thành
lịch Hiệp Kỷ (q.7, t.9b).
Chúng tôi cho rằng như vậy ít ra từ cuối thế kỷ XII đến nửa
đầu thế kỷ XIV, Việt Nam dùng lịch Trung Quốc. Để kiểm tra
điều này, chúng tôi ghi lại tất cả những ngày âm lịch có ghi
can chi được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư (thường là
ngày có nhật thực, ngày xảy ra các sự kiện khác thi thường
không được Toàn thư ghi rõ can chi) trong khoảng 50 năm
cuối thế kỷ XIII (tức giai đoạn cần nghiên cứu( ) rồi đem so
sánh với lịch Trung Quốc thì thấy hoàn toàn phù hợp ( ). Chỉ
có một trường hợp duy nhất sai biệt với lịch Trung Quốc là
chỗ Toàn thư (q.5, t.52b) chép tháng chạp năm Trùng Hưng
3 (Chí Nguyên 24) có ngày 30. Theo lịch Trung Quốc thì
tháng này thiếu, chỉ có 29 ngày. Nhưng khi xét nội dung câu
ở trong Toàn thư, chúng tôi thấy rằng ở đây đã chép nhầm
sự kiện của tháng 11 ra tháng 12( ) chứ không phải là lịch
Việt Nam khác lịch Trung Quốc. Do chỗ thống nhất lịch pháp
giữa Việt Nam và Trung Quốc ở thế kỷ XIII như vậy, chúng
tôi thấy có thể xác định các sử kiện rút ra ở hai nguồn tài
liệu theo trình tự thời gian chung. Mặt khác, có thể đổi các
ngày âm lịch chép trong hai nguồn sử liệu ra ngày dương
lịch theo một phương pháp chung. Chúng tôi đã dựa vào các
sách Lưỡng Thiên Niên Trung Tây lịch đối chiếu biểu, Trung
Tây Hồi sử nhật lịch để đổi các ngày âm lịch (hoặc ghi bằng
can chi) ra dương lịch. Việc đổi ngày âm lịch ra dương lịch
có thể đính chính lại một số điểm không chính xác trong các
sách trước đây như cuộc kháng chiến chông xâm lược Mông
Cổ lần thứ nhất xảy ra vào năm 1258 chứ không phải năm
1257... Trong sách này, chúng tôi ghi cả ngày dương lịch và
âm lịch để người đọc có thể kiểm tra lại sử liệu cũng như
cách đổi ngày. Đối với những tháng âm lịch không ghi rõ
ngày, chúng tôi ghi tháng đó bắt đầu từ ngày nào đến ngày
nào của dương lịch.
*
**
Trong sử liệu Việt Nam và Trung Quốc, các vua Trần được
gọi bằng những tên khác nhau, dễ gây ra nhầm lẫn. Nhà sử
học Nhật Bản Yamamoto Tatsuro đã khảo chứng khá công
phu về vấn đề này trong chương Chinchò no omei ni
kansuru kenkyũ (Nghiên cứu về tên vua triều Trần) ở đầu
quyển An Nam Shikenkyũ (An Nam sử nghiên cứu) tập I của
ông. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với Yamamoto. Ở đây
chúng tôi không lặp lại các chứng minh mà chỉ nêu ra
những tên vua trong giai đoạn đang nghiên cứu:
Trần Thái Tông tên là Cảnh, tức Nhật Cảnh và Quang Bính
trong sử liệu Trung Quốc, Trần Thánh Tông tên là Hoảng,
tức Nhật Huyên trong sử liệu Trung Quốc. Trần Nhân Tông
tên là Khâm, tức Nhật Tôn trong sử liệu Trung Quốc.
*
**
Trong khi sưu tầm sử liệu để soạn tập sách, này, chúng tôi
được đồng chí Sa Kính Phạm ở Trường đại học Bắc Kinh gửi
cho những tài liệu Trung Quốc không có trong các thư viện
trong nước, ở đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn.
CHƯƠNG 1: ĐẠI VIỆT TRƯỚC CUỘC KHÁNG CHIẾN
N
ới sức dân, làm kế rễ sâu gốc vững,
ấy là thượng sách giữ nước...”.
Trần Quốc Tuấn
Trong phần tư đầu tiên của thế kỷ XIII, Đại
Việt đang lâm vào tình trạng nội chiến giữa
các thế lực phong kiến cát cứ. Vương triều Lý chỉ còn là một
hơi thở thoi thóp. Chính quyền trung ương suy yếu, lúc thì
dựa vào tập đoàn phong kiến địa phương này, lúc thì dựa
vào tập đoàn phong kiến địa phường khác. Thăng Long mấy
lần bị đốt phá, vua Lý phải trốn khỏi kinh thành.
Đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. Người chết đói nhiều,
người sống sót phá sản, lưu vong. Bọn phong kiến cát cứ lại
bắt nhân dân làm phu dịch, đào hào, đắp luỹ và xua họ vào
cuộc nội chiến đẫm máu. Thời kỳ đen tối đó kéo dài dằng
dặc trong suốt mười mấy năm trời. Thế rồi, một thế lực
phong kiến mạnh nhất, họ Trần, đã dần dần chiếm được ưu
thế, khống chế được chính quyền trung ương đang tàn tạ,
chiến thắng được các tập đoàn phong kiến cát cứ khác,
thống nhất đất nước. Quyền lực họ Trần ngày càng lớn. Huệ
Tông nhà Lý phát điên, trao ngai vàng cho Chiêu Hoàng,
một cô gái lên bảy. Điều đó càng tạo điều kiện thuận lợi cho
sự biến ngày 11 tháng chạp năm Ất Dậu (10-1-1226), ngôi
vua về tay Trần Cảnh. Thế là vương triều Lý đổ, vương triểu
Trần thành lập.
Hoà bình đã trở lại trên đất nước, nhân dân được yên ổn
làm ăn. Họ Trần khôi phục được chính quyền thống nhất,
chấm dứt cuộc nội chiến phong kiến, về khách quan đã đáp
ứng được đòi hỏi của nhân dân. Nền kinh tế đầu đời Trần lại
bắt đầu phát triển.
Để khôi phục lại sức sản xuất bị đình đốn cuối thòi Lý, nhà
Trần đã chú trọng tổ chức khai khẩn đất hoang, mở rộng
diện tích sản xuất nông nghiệp. Ở mỗi lộ, có hai viên đồn
điền chánh sứ và phó sứ đôn đốc việc khai khẩn đồn điền
của quân dân. Năm 1266, vương hầu, công chúa, phò mã,
cung phi chiêu mộ những người dân nghèo đói phiêu tán
làm nô tỳ, khai khẩn ruộng hoang, lập thành các điền trang.
Bọn quý tộc lại sai nô tỳ đến những vùng ven biển, đắp đê
ngăn nước mặn, qua hai ba năm, đất khai phá trỏ thành
đồng ruộng, đó là những tư trang của quý tộc. Nô tỳ được
phép lấy vợ lấy chồng, cư trú và canh tác ở đấy.
Thời Trần sơ, nhà nước rất chú ý việc đắp đê phòng lụt.
Năm 1248, Thái Tông hạ lệnh cho các lộ đắp đê từ đầu
nguồn đến bãi biển để đề phòng nước sông dâng to, gọi là
đê “đỉnh nhĩ” (quai vạc), đặt chức hà đê chánh sứ và phó sứ
để trông coi việc đắp đê. Năm 1255, vua Trần sai Lưu Miễn
đắp các đê ở Thanh Hóa. Cũng năm này, nhiệm vụ của các
hà đê sứ được quy định rõ ràng hơn: “Tuyến tản quan làm
hà đê chánh phó sứ ở các lộ, khi việc cày cấy rỗi thì đốc
quân lính đắp đê đập, đào khe ngòi để phòng lụt hạn” ( ).
Sách An Nam chí cho chúng ta biết khá rõ về tình hình đê
điều thời Trần: “Xứ Giao Chỉ, dân cư trù mật, đất không đủ
cày, cho nên người trước đắp đê cao ở hai bên bờ sông ngòi
đề phòng nước lụt; đất làm muối ở ven biển, bị nước mặn
lấn vào, bọn quý tộc thế gian muốn chiếm riêng đất đó, để
tự ý đắp đê ngăn nước mặn rồi gieo giống cày cấy ở bên
trong, như thế là để yên dân và khai thác hết mối lợi của
đất đai. Lại như sông Phú Lương (tức sông Hồng - T.G.),
phát nguyên ở trong vùng núi Tây Bắc, chảy quanh co về
phía Đông Nam, tràn trề mênh mông, khoảng mùa hạ, mùa
thu, trời mưa dầm dề, thuỷ hoạn xảy ra, cho nên hai bên bờ
sông đều đắp đê để phòng bị. Một con đê từ sông Đáy đến
sông Hải Triều (tức sông Luộc - T.G.), sông Phù Vạn thì dứt.
Một con đê từ bến sông Bạch Hạc đến các vùng sông Lỗ,
sông Đại Lũng, cửa Mãnh, cửa Ninh thì dứt. Đê đều cao ba
thước, rộng năm trượng, đặt hà đê [chánh] phó sứ để trông
nom. Mỗi năm vào tháng giêng, quan coi đê đốc thúc nhân
dân phụ cận, không phân sang hèn già trẻ đều đi đắp đê.
Chỗ nào thấp trũng thì đắp cao thêm, chỗ nào lở thì bồi đắp
vào.Đến đầu mùa hạ thì xong việc.
Ấy là lệ thường hằng năm. Vào khoảng tháng sáu, tháng
bảy, nước sông dâng to, đê sứ phải tự mình ra sức tuần
hành xem xét, gặp chỗ bị lở thì sửa chữa ngay, nếu lười
biếng thì mất chức. Nếu để cư dân trôi đắm, lúa má chìm
hại thì lượng theo nặng nhẹ mà trách phạt. Từ đó, thủy tai
không còn nữa mà đời sông của dân được sung sướng, đất
không bỏ sót nguồn lợi nao" ( ).
Nhà Trần cũng đã đào thêm một số kênh và sông, có tác
dụng về mặt giao thông cũng như về mặt thủy lợi. Năm
1231, vua Trần sai nội minh tự Nguyễn Bang Cốc đem phủ
quân đào kênh Trầm và kênh Hào từ phủ Thanh Hóa (thuộc
huyện Tĩnh Gia) đến địa giới phía nam Diễn Châu. Sông Tô
Lịch được khơi sâu thêm nhiều lần, lần đầu tiên vào năm
1256.
Do điều kiện thiên nhiên cũng như do sức lao động của
nhân dân và chính sách bảo vệ sản xuất nông nghiệp, châu
thổ các sông Hồng, sông Mã... đã trở thành vùng sản xuất
nhiều lúa. Uông Đại Uyên, người Trung Quốc đời Nguyên,
tác giả sách Đảo di chí lược, đã chép rằng: “Nước Đại Việt...
đất rộng người đông, khí hậu thường nóng, ruộng đất phần
lớn phì nhiêu” ( ). Trần Phu, sứ nhà Nguyên đến nước ta, đã
ghi lại rằng: “Lúa mỗi năm chín bôn lân, tuy vào giữa mùa
đông mà mạ vẫn mườn mượt "( ). Đấy là tình hình sau
chiến tranh nhưng ít nhiều cũng cho chúng ta hình dung
được vẻ phong thịnh của nông nghiệp trong những ngày
hòa bình trước cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông Cổ.
Từ buổi đầu đời Trần, bên cạnh ruộng đất làng xã và ruộng
đất phong cấp của quý tộc thuộc sở hữu nhà nước, bộ phận
ruộng đất tư hữu đã phát triển mạnh mẽ( ). Năm 1237,
Trần Thái Tông đã xuống chiếu định thể lệ làm chúc thư,
văn khế ruộng đất và vay mượn tiền. Năm 1254, Thái Tông
cho phép bán quan điền, tức ruộng công, cho dân mua làm
ruộng tư, cứ mỗi “diện” (bây giờ gọi mẫu là diện) giá 5
quan tiền ( ).
Chế độ thuế khóa được quy định trên cơ sở chế độ sở hữu
ruộng đất. Thuế ruộng tư thời Trần mỗi mẫu 3 thăng thóc.
Nông dân cày ruộng công mỗi mẫu phải nộp 100 thăng.
Năm 1242, Trần Thái Tông quy định thuế nhân đinh nộp
bằng tiền và đánh lũy tiến theo ruộng đất. Người nào có
ruộng từ một đến hai mẫu, phải nộp một quan tiền, có từ
ba đến bốn mẫu nộp hai quan, và từ năm mẫu trở lên nộp
ba quan. Ai không có ruộng đất thì được miễn. Thuế ruộng
bãi dâu và ruộng muối đều nộp bằng tiền. Ngoài ra, nhà
Trần còn đánh thuê nhi...
CHƯƠNG MỞ ĐẦU: VỀ CÁC NGUỒN SỬ LIỆU
ến nay dân bốn biển
Nhớ mãi năm bắt thù” ( )
Phạm Sư Mạnh
Trong những bản thảo bộ Jami al - Tawàrìkh
(Tập sử biên niên) viết bằng chữ Ba Tư của
nhà sử học nổi tiếng thế kỷ XIII Ra Sit Ut - Đin (Fazl Alah
Radsidud Din, 1247-1318), người ta đọc được những dòng
sau đây về một nước Kiafca xa xôi:
“Nước đó có những vùng khó đi lại và nhiều rừng cây, giáp
với Karajan ( ), một phần giáp Hindostan và biển.Ở đó có
hai thành thị là Lujek(?) và jesam(?). Nước đó có quốc
vương riêng, không thần phục hãn (vua Mông Cổ - T.G.)
Tugan ( ) con trai của hãn, chỉ huy đội quân của Lukin Fu ( )
để bảo vệ miền Manzi cũng như để ngăn ngừa và chống lại
những ai không khuất phục. Một lần, Tugan đem quân vào
nước đó, chiếm lấy các thành thị ven biển và thống trị ỏ đấy
trong một tuần lễ. Nhưng bỗng nhiên từ biển, từ rừng, từ
núi, xuất hiện những đội quân nước đó đánh tan đạo quân
của Tugan đang lo cướp bóc. Tugan trốn thoát và lại trở về
đóng ở Lukin-fu”
Kifaca, có bản chép là Kiefce - Kue, chính là phiên âm tên
Giao Chỉ hay Giao Chỉ quốc. Mặc dầu quá đơn giản và có
chỗ sai lầm, nhà sử học Ba Tư đã nói đến cuộc kháng chiến
của nhân dân Việt Nam chống quân Nguyên vào thế kỷ XIII.
Cuộc chiến đấu anh dũng và thần kỳ diễn ra khắp đất nước,
“từ biển, từ rừng, từ núi”, đã đánh tan bọn xâm lược Thoát
Hoan (Tô-gan) hung hãn. Hẳn chiến thắng oanh tiệt của Đại
Việt (quốc hiệu Việt Nam bấy giờ) đã có tiếng vang lớn nên
Ra Sít Ut - Đin, nhà sử học Thành Ha Ma Đan (Hamadhan) ở
tận phía tây của châu Á mới chép vào bộ sử của mình
những dòng trên.
Điều đáng tiếc là những dòng như vậy thật quá ít trong các
sử liệu thế kỷ XIII của đế quốc Mông Cổ. Muốn nghiên cứu
cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam
thế kỷ XIII, phải dựa vào hai nguồn sử liệu chủ yếu: sử liệu
Việt Nam và sử liệu Trung Quốc. Nhưng cả hai nguồn sử liệu
này đều kém phong phú.
Bộ Trung hưng thực lục đời Trần chép các chiến công chống
Nguyên nay không còn nữa ( ). Các sách binh pháp của nhà
quân sự thiên tài Trần Quốc Tuấn như Binh thư yếu lược ( ),
Vạn Kiếp tông bí truyền thư đã mất. Quyển Binh thư yếu
lược hiện có chỉ là một quyển sách giả do người đời sau
soạn. Ngay bộ Đại Việt sử ký tục biên do nhà sử học Phan
Phu Tiên soạn năm 1445 chép tiếp Đại Việt sử ký của Lê
Văn Hưu giai đoạn đầu từ đầu Trần đến Lê Lợi khởi nghĩa
cũng không tìm thấy. Hiện nay, chúng ta chỉ còn đọc được
những sử liệu về cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thế kỷ
XIII trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư của nhà sử học Ngô Sĩ
Liên soạn năm 1479. Chúng ta có thể tin chắc là khi chép
về giai đoạn lịch sử này Ngô Sĩ Liên còn có trong tay những
sử liệu đời Trần và bộ sử của Phan Phu Tiên. Vì thế, những
điều ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư thật đáng quý.
Tuy nhiên những tài liệu về cuộc kháng chiến chống Nguyên
trong Toàn thư quá sơ sài ít ỏi, nếu chỉ dựa vào đấy thì thật
là khó khăn trong việc khôi phục những trang sử vẻ vang
của dân tộc thế kỷ XIII. Đấy là chưa kể ở nhiều chỗ Ngô Sĩ
Liên đã lầm lẫn như chép rằng thuyền lương của Trương Văn
Hổ bị đắm trong trận Bạch Đằng, Nguyễn Khoái bắt được Áo
Lỗ Xích (Ayuruyci) hay Thoát Hoan (Toyan) cũng bị ta bắt (
)... Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử
quán đời Nguyễn (hoàn thành năm 1859, hiệu đính năm
1871 - 1878, in năm 1884) đã tham khảo các tài liệu Trung
Quốc như Nguyên sử, Nguyên sử loại biên, Thông giám tập
lãm để đính chính những sai lầm trên của Toàn thư. Nhưng
do thiếu thận trọng trong khi tham khảo tài liệu Trung
Quốc, Khâm định Việt sử thông giám cương mục lại mắc
những sai lầm khác. Chẳng hạn Cương mục đã chép trận
Vân Đồn xảy ra vào tháng giêng, năm Trùng Hưng thứ 4 (3
tháng 2 - 3 tháng 3 năm 1288) lúc Ô Mã Nhi (Omar) đem
thuyển đi đón Trương Văn Hổ, kỳ thực thì trận Vân Đồn xảy
ra vào tháng 12 năm Trùng Hưng thứ 3 (5 tháng 1 - 2 tháng
2 năm 1288), lúc thủy quân Nguyên tiến vào đất nước
chúng ta ( ). Sai lầm đó của Cương mục dẫn tới sai lầm của
nhiều tác phẩm hiện nay viết về vấn đề này. Những sử liệu
mới rút ra từ sách Trung Quốc do Cương mục bổ sung cũng
không được bao nhiêu. Nếu chúng ta có trong tay các thư
tịch Trung Quốc và Đại Việt sử ký toàn thư thì có thể không
cần dùng đến Cương mục, một bộ sử xuất hiện muộn, để
nghiên cứu cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thế kỷ XIII.
Trong khi viết quyển sách này, chúng tôi lấy tài liệu ở Toàn
thư mà không dựa vào Cương mục, trừ những chỗ cần so
sánh.
Hiện nay ở Thư viện Khoa học Trung ương còn có một số
sách chép tay bằng chữ Hán có liên quan đến cuộc kháng
chiến chống Nguyên như Trần Đại vương bình Nguyên thực
lục, Vạn yên thực lục, Trần triều thế phả hành trạng, Trần
gia điển tích thống biên,... Những sách này đểu là được biên
soạn về sau, phần lớn là đời Nguyễn, không có giá trị gì
mấy, thường là chép lại các tài liệu ở chính sử, hoặc thêm
thắt bằng truyền thuyết. Do đó chúng tôi rất ít dùng loại tài
liệu này.
Hiện nay chúng tôi cố tìm các bi ký thời Trần để bổ sung cho
nguồn sử liệu Việt Nam nghèo nàn về cuộc kháng chiến
oanh liệt này. Nhưng việc tìm kiếm đó chưa có kết quả mấy.
Bia công chúa Phụng Dương (vợ Trần Quang Khải) do Lê
Củng Viên soạn năm 1293 có những chi tiết liên quan đến
việc rút lui của vương triều Trần khỏi Thăng Long năm 1285
( ). Chúng tôi cũng đọc được ở bài minh khắc trên quả
chuông Thông Thánh quán Bạch Hạc năm 1321 những sử
liệu về cuộc chiến đấu của Trần Nhật Duật ở Tuyên Quang
trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (quả chuông này do
chính Trần Nhật Duật coi việc đúc). ( )
Một tác phẩm quan trọng mà chúng tôi đã sử dụng là An
Nam chí lược của Lê Trắc. Lê Trắc là môn khách của Chương
Hiến hầu Trần Kiện, đã cùng chủ đầu hàng quân Nguyên
năm 1285. Y soạn bộ sách này ở Trung Quốc vào những
năm đầu thế kỷ XIV( ). Với một lập trường rất phản động,
Lê Trắc đã để cao kẻ thù, bôi nhọ những trang sử vẻ vang
của dân tộc. Về cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, Lê
Trắc luôn luôn chép kẻ địch thắng, nhưng mặc dầu vậy, y
vẫn không che giấu nổi những thất bại nhục nhã của bọn
cướp nước và bán nước. Vì đây là tài liệu của một kẻ hàng
giặc nên phải vô cùng thận trọng khi sử dụng. Tuy vậy, An
Nam chí lược vẫn là một tài liệu rất cần thiết đối với việc
nghiên cứu cuộc kháng chiến chống Nguyên. Trong sách
này, Lê Trắc đã chép được những thư từ qua lại giữa vua
Trần và vua Nguyên cũng như thư của các sứ thần, quan lại
(q.2 Đại Nguyên chiếu chế, q.5, Đại Nguyên chư thần vãng
phục thư vấn, q.6 Biểu chương). Đấy là những tài liệu quan
trọng để nghiên cứu quan hệ ngoại giao Việt - Nguyên trong
giai đoạn đó. Những sứ bộ ngoại giao được chép trong
quyển 3 Đại Nguyên phụng sứ và quyển 14 Trần Thị khiển
sứ. Chúng ta còn có thể khai thác tài liệu về diễn biến các
trận trong quyển 4 Chinh thảo vận hướng. Lê Trắc đã chép
các sự kiện với ngày tháng rõ ràng, điều đó giúp chúng ta
có thể đối chiếu với các tài liệu khác mà khôi phục được quá
trình diễn biến các sự kiện theo trình tự thời gian. Những
tiểu truyện, thơ văn của bọn hàng giặc và ngay cả bài Tự sự
của Lê Trắc cũng cho chúng ta thấy được tinh thần khiếp
nhược, tâm trạng hoang mang của những tên bán nước và
sức chiến đấu mãnh liệt của quân dân ta. Chính vì thế,
chứng tôi đã sử dụng An Nam chí lược, coi nó là một tài liệu
cần thiết trong việc nghiên cứu cuộc kháng chiến chống
Nguyên. Tất nhiên chúng tôi không tìm ở đây những trang
tràn đầy tinh thần dân tộc như dưới ngòi bút của Ngô Sĩ
Liên mà phải tìm lại hình ảnh cuộc chiến đấu của dân tộc
qua bức màn đen của Lê Trắc. Những hình ảnh đó có chỗ
vẫn hiện lên rõ nét và sinh động. Đó là điều Lê Trắc không
muốn và không ngờ tới.
Nếu việc sử dụng An Nam chí lược gặp khó khăn do sự
xuyên tạc của Lê Trắc thì việc sử dụng các thư tịch cũ của
Trung Quốc có liên quan đến vấn đề này cũng như vậy.
Chính sử Trung Quốc xưa nhất có chép đến vấn đề này là
Nguyên sử ( ). Nguyên sử được biên soạn đầu đời Minh, do
Tống Liêm, Vương Vĩ và một số người khác (bài biểu dâng
Nguyên sử của Lý Thiện Trường đề năm 1369). Các tác giả
đã dựa vào các sử liệu thư tịch đời Nguyên còn lại ở Bắc
Kinh để viết bộ sử này. Chúng ta có thể tìm thấy những sử
liệu quan trọng liên quan đến cuộc kháng chiến chống xâm
lược Nguyên Mông rải rác trong phần Bản kỷ Hiến Tông và
Thế Tổ, trong một số truyện những viên tướng hay sứ giả ở
phần Liệt truyện và tập trung ở An Nam truyện (q.209) và
Chiêm Thành truyện (q.210) ( ). Điều đáng chú ý là các tác
giả tuy là sử gia đời Minh nhưng khi viết Nguyên sử họ vẫn
đứng trên lập trường phong kiến nhà Nguyên. Đứng về mặt
phương pháp biên soạn mà nói, Nguyên sử là bộ sử kém
nhất, chứa đựng nhiều điều sai lầm và hỗn loạn nhất trong
24 bộ sử Trung Quốc. Một số người nghiên cứu lịch sử sử
học Trung Quốc đã cho rằng sở dĩ như vậy là tuy các tác giả
có sử dụng các tài liệu đời Nguyên nhưng họ đều không
hiểu tiếng Mông Cổ và phải soạn gấp trong một thời gian
quá ngắn chưa đầy một năm theo lệnh Minh Thái Tổ. ( )
Chính vì thế mà nhiều sử gia về sau đã cố gắng bổ sung
Nguyên sử. Đời Minh đã xuất hiện Nguyên sử tục biên của
Hồ Tuý Trung, Nguyên sử bị vong lục của Vương Quang Lỗ,
Nguyên sử kỷ sự bản mạt của Trần Bang Chiêm. Đến đời
Thanh càng nhiều sử gia viết lại sử Nguyên như Thiệu Viễn
Bình viết Nguyên sử loại biên (còn gọi là Tục Hoằng giản
lục), Tiên Đại Hân viết Bổ Nguyên sử thị tộc biểu, Bổ
Nguyên sử nghệ văn chí, Nguyên sử thập di... Uông Huy Tổ
viết Nguyên sử bản chứng, Nguỵ Nguyên viết Nguyên sử
tân biên, Hồng Quân viết Nguyên sử dịch văn chứng bổ, Đồ
Kỳ viết Mông Ngột Nhi sử, Kha Thiệu Mân viết Tân Nguyên
sử... Các sử gia trên đã tìm tòi thêm nhiều tài liệu Trung
Quốc và nước ngoài để bổ sung cho lịch sử triều Nguyên ở
Trung Quốc hoặc lịch sử đế quốc Mông Cổ nói chung. Nhưng
đối với phần có liên quan đến Việt Nam thế kỷ XIII thì họ
tìm được rất ít tài liệu mới, phần lớn là chép lại Nguyên sử.
Vì thế đối với loại tài liệu này chúng tôi ít dẫn dụng, trừ
những điều không chép trong Nguyên sử. Ngay đối với
nhũng điều đó, chúng tôi cũng chỉ dùng sau khi đã phân
tích hay đối chiếu với các tài liệu khác vì lý do là các quyển
sử trên được biên soạn muộn về sau ( ).
Trong khi đó, chúng tôi chú trọng hơn đến các tài liệu khác
tuy không phải là chính sử nhưng được biên soạn vào đời
Nguyên. Một tác phẩm quan trọng là Hoàng triều kinh thế
đại điển do Triệu Thế Diên và Ngu Tập soạn năm 1330-1331
dưới sự giám sát của viên quan Mông Cổ, Đác Khan Khác
Kha Xun (Darqan Qarqasun). Đáng tiếc là bộ sách đã mất,
nay chỉ còn lại vài phần trong bộ Vĩnh Lạc đại điển. Những
sử liệu liên quan đến Việt Nam ở đây chỉ còn có đôi điều.
May mắn là bài tựa, hay nói đúng hơn là đề cương chi tiết
của bộ sách đó, với cái tên Kinh thế đại điển tự lục đã được
một tác gia đời Nguyên là Tô Thiên Tước (1294-1352) chép
lại trong bộ văn tuyển Quốc triều văn loại (còn gọi là
Nguyên văn loại) của ông. Trong mục Chinh phạt của Kinh
thế đại điển tự lục có các đoạn An Nam và Chiêm Thành.
Đoạn An Nam tuy sơ lược nhưng bổ sung thêm một số tài
liệu về cuộc kháng chiến chống Nguyên của nhân dân Việt
không có trong Nguyên sử. Đoạn Chiêm Thành có nhiều tài
liệu tốt, đặc biệt là chép rõ ngày tháng quá trình diễn biến
cuộc kháng chiến của nhân dân Chàm, bổ sung được nhiều
điểm cho Nguyên sử Chiêm Thành truyện.
Các sách do sứ Nguyên đã đến Việt Nam soạn là những tài
liệu tốt để nghiên cứu tình hình Việt Nam và quan hệ ngoại
giao lúc bấy giờ. Trong số các tác phẩm đó, chứng ta phải
kể đến Thiên Nam hành ký (hay An Nam hành ký) của Từ
Minh Thiện( ). Từ Minh Thiện đến Thăng Long năm 1289.
Trong Thiên Nam hành ký, Từ Minh Thiện đã chép được một
số thư từ trao đổi giữa vua Việt và vua Nguyên mà An Nam
chí lược chép không đầy đủ hay không chép. Một tài liệu
quý nữa là Trần Cương - trung thi tập của Trần Phu. Trần
Phu đi sứ năm 1291, đến Việt Nam năm 1292( ). Tất cả
những bài thơ viết về Việt Nam đều được chép trong Giao
châu cảo tức tập 2 của Trần Cương -Trung thi ( ). Trong tập
thơ đó có những bài có chú thích cẩn thận (như bài An Nam
tức sự) là những tài liệu hiếm dùng để nghiên cứu kinh tế
xã hội Việt Nam thế kỷ XIII, một số bài khác nói lên sự
hoảng sợ lo lắng của bọn sứ Nguyên ở Việt Nam (như bài
Giao châu sứ hoàn cảm sự), một số bài có thể dùng làm tài
liệu để xét một số địa danh hay ngày tháng (như bài Tư
Minh cháu nguyên nhật, bài Ngày mồng 3 tháng 2 trú ở
trạm Khâu Ôn thấy trăng mới giữa trời...). Cuối Trần Cương
Trung thi tập còn có một phần phụ lục Nguyên phụng sứ dữ
An Nam quốc vãng phục thư chép lại 8 bức thư trao đổi giữa
Lương Tằng, Trần Phu và vua Trần Nhân Tông.
Ngoài những thư tịch trên, chúng tôi đặc biệt chú ý đến các
bi ký soạn đòi Nguyên có liên quan đến vấn đề đang nghiên
cứu. Một số bi ký đà được các tác giả đưa vào trong các tập
văn thơ của mình. Trước hết chúng tôi muốn nói đến Mục
Am tập của Diêu Toại (1238-1314). Chúng ta có thể đọc.
trong đó những bi ký do ông soạn về những nhân vật có
liên quan đến cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam như mộ
chí Trương Đình Trân, tên sứ giả đến Việt Nam năm 1269,
miếu bi Lý Hằng, tên tướng đánh Việt Nam năm 1285, bia A
Lý Hải Nha (Ariq - Qaya), tên tướng chỉ huy đội quân xâm
lược Việt Nam năm 1285... Một số bi ký khác như Dĩnh châu
vạn hộ Đê công thần đạo bi (Diêu Toại soạn năm 1304)
cũng có những sử liệu về việc quân Nguyên chuẩn bị xâm
lược Chiêm Thành và Việt Nam( ).
Tô Thiên Tước (1294 - 1352) khi soạn quyển Nguyên triều
danh thần sự lược cũng đã dựa vào nhiều bi ký của các tác
giả đương thời. Trong Nguyên triều danh thần sự lược, ngoài
những tài liệu liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu, chúng
ta còn có thể đọc được một số bi ký khác như bài miếu bi A
Truật (Aju), viên tướng đã đánh vào Việt Nam năm 1258, do
Vương Vận (chết năm 1304) tác giả Thu giản văn tập soạn,
và bài bia nói về viên quan Mông Cổ là Khác Kha Xun
(Qarqasun) do Lưu Mẫn Trung (1242 - 1318) soạn. Trong
bài bia Khác Kha Xun có những sử liệu liên quan đến âm
mưu xâm lược Việt Nam của bọn phong kiến Nguyên sau
năm 1288.
Trong Từ Khê văn cảo của Tô Thiên Tước có bài bia Cô thừa
sự lang Tương Sơn huyện doãn Lý hầu mộ bi do chính Tô
Thiên Tước soạn, chép về Lý Thiên Hựu, viên quan đi theo
thuỷ quân Nguyên vào Việt Nam năm 1288, bị ta bắt ở trận
Bạch Đằng nhưng sau đó trốn thoát được. Trong bài bia đó
có những sử liệu liên quan đến các trận Tháp Sơn (Đồ Sơn),
Bạch Đằng.
Tài liệu tìm được trong các bi ký đời Nguyên tuy không phải
là phong phú lắm nhưng chúng tôi cố gắng khai thác vì
chúng được chép vào thời gian gần cuộc kháng chiến chống
Nguyên hơn là Nguyên sử. Có những bi ký tuy không thêm
được điều gì mới nhưng có thể dùng nó để xác minh những
điểu chép trong các sách khác. Ví dụ theo Nguyên sử Tín
Thư Nhật truyện thì tên vua nước Đại Lý (Vân Nam) Đoàn
Hưng Trí sau khi đầu hàng quân Mông Cổ đã đem hai vạn
quân người Thoán Bặc Vân Nam đưa quân Mông Cổ tiến vào
Việt Nam năm 1258. Điều này được chứng thực trong bài
bia chùa Đại Sùng Thánh ỏ Vân Nam do Lý Nguyên Đạo
soạn năm 1325, bia này do viên tổng quản Vân Nam là
Đoàn Long (thay Tín Thư Long), cháu Đoàn Hưng Trí dựng (
).
Trên đây là những nguồn sử liệu chủ yếu mà chúng tôi dựa
vào để nghiên cứu cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của
nhân dân Việt Nam thế kỷ XIII. Việc sử dụng các tài liệu đó
không phải là dễ dàng vì nhiều chỗ mâu thuẫn với nhau và
có những sai lầm cần phân tích phê phán. Điều khó khăn
lớn là nguồn tài liệu Việt Nam quá ít, vì thế chúng tôi khó
mà trình bày các cuộc hành quân, các trận đánh... của quân
dân ta một cách cụ thể. Dầu hết sức cố gắng, chúng tôi biết
rằng tập sách này vẫn còn nhiều thiếu sót vì trình độ của
các tác giả và vì tài liệu chưa thu thập được đầy đủ.
****
Khi sử dụng các nguồn tài liệu Việt Nam và Trung Quốc nói
trên, chúng tôi gặp rất nhiều tên nhân vật Mông Cổ và các
dân tộc khác như người A-rập, người Ui-gua (Uigur), người
Khíp Trắc (Qỹbcak), người Khang Lư (Qangli)... cũng như
tên người Hồi giáo, Cơ Đốc giáo... Những người này có liên
quan đến cuộc chiến tranh (hay ngoại giao) ỏ Việt Nam thế
kỷ XIII. Các tác phẩm nghiên cứu về cuộc kháng chiến này
trước đây thường chép tên người theo cách phiên âm Trung
Quốc (đọc bằng âm Hán Việt) như Ngột Lương Hợp Thai, A
Lý Hải Nha, Bột La Hợp Đáp Nhi,... Chúng tôi cho rằng cách
phiên âm đó dễ gây lầm lần vì trong thư tịch cũ của Trung
Quốc, một nhân vật Mông Cổ hay tộc khác được phiên âm
bằng nhiều tên khác nhau. Chẳng hạn như Nguyên sử chép
là Ngột Lương Hợp Thai, Ngột Lương Cáp Thai, Toàn thư
chép là Ngột Lương Hợp Đải, An Nam chí lược chép là Ngột
Lương Cáp Đải, Thông giám tập lãm chép là Ô Đặc Lý Cáp
Đạt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn lại chép là Cốt Đải
Ngột Lang... Ngay trong Nguyên sử, A Lý Hải Nha còn được
chép là A Lạt Hải Nha, A Lỗ Hải Nha, A Lễ Hải Nha..., còn bi
ký của Diêu Toại chép là A Lực Hải Nha. Nguyên sử cũng
chép Bột La Hợp Đáp Nhi là Bột Lỗ Hợp Đáp Nhi, trong khi
An Nam chí lược lại chép nhầm thành Lý La Hợp Đáp Nhi,
Sách La Cáp Đáp Nhi,... Cách phiên âm đời Nguyên, Minh
đã hỗn loạn, đến đời Thanh lại càng hỗn loạn hơn. Theo
lệnh của Càn Long, năm 1781, một ủy ban được thành lập
để soạn quyển Liêu Kim Nguyên tam sử ngữ giải, đem đổi
tất cả những tên phiên âm vốn có trong Liêu sử, Kim sử và
Nguyên sử thành những tên phiên âm mới.. Vì không hiểu
quy luật phiên âm đời Nguyên Minh, các tác giả quyển sách
đó đã thay đổi một cách tùy tiện và sai lầm. Ngột Lương
Hợp Thai lại được đổi thành Ô Lan Cáp Đạt, A Lý Hải Nha
đổi thành A Nhĩ Cáp Nhã,... Các bản in Nguyên sử hay các
thư tịch khác nói trên vào sau đòi Càn Long thường bị sửa
lại theo cách phiên âm mới (bộ Nguyên sử mà Khâm định
Việt sử thông giám cương mục tham khảo cũng là bộ sách
đã bị chữa theo cách phiên âm đời Thanh). Một số bộ sử
soạn đồi Thanh như Tục tư trị thông giám của Tất Nguyên
cũng theo cách phiên âm này. Do đó, việc phiên âm ngày
càng gây ra nhiều lầm lẫn. Khi đọc những tài liệu trên,
chúng ta có thể lầm một người thành hai hoặc nhiều người
khác nhau. Chẳng hạn ông Hoàng Thúc Trâm trong Trần
Hưng Đạo (Sài Gòn, 1950) ở trang 67, đã nói về A Truật, lại
nói về một người khác là A Châu, kỳ thực A Châu chỉ là tên
phiên âm đời Càn Long của A Truật (Aju).
Chúng tôi thấy rằng nếu theo cách phiên âm Trung Quốc tất
phải chọn lấy một tên trong nhiều tên khác nhau, nhưng
như vậy sẽ gây khó khăn cho người muốn tìm hiểu các sử
liệu khác nhau. Vì các lý do trên, trong quyển sách này,
chúng tôi quyết định không theo bất kỳ cách phiên âm
Trung Quốc nào mà phiên âm theo đúng tiếng Mông Cổ
trung đại (hoặc tiếng các dân tộc khác) ví dụ A Lý Hải Nha
sẽ phiên âm là A Ríc Kha Y A (Ariq - Qaya), Ngột Lương Hợp
Thai là Ư Ri Ang Kha Đai (Uriyangqadai), Bột La Hợp Đáp
Nhi và Bôn Kha Đa (Bol-qadar),... Việc khôi phục lại tên
người Mông Cổ và các tộc khác còn giúp chúng ta tránh
được các sai lầm tách tên một ngưòi thành hai người hoặc
nhập hai tên lại làm một. Chẳng hạn như Trần Trọng Kim
tách Tích Lệ Cơ Ngọc thành Tích Lệ và Cơ Ngọc( ), nhà sử
học Nhật Bản Yamamoto Tatsuro coi Hòa Lễ Hoắc Tôn là
Hoà Lễ và Hoắc Tôn ( ), các dịch giả Việt sử thông giám
cương mục đọc I Lặc Cát Đại thành I Lặc, Cát Đại ( ),...
Thực ra Tích Lệ Cơ Ngọc trong Toàn thư là chép nhầm từ
Tích Lệ Cơ Vương (theo Thiên Nam hành ký) và Tích Lệ Cơ
là Sirăgi (Si-rê-ghi), Hoà Lễ Hoắc Tôn chỉ là Qorqao-sun
(Khoóc-khô-xun), còn I Lặc Cát Đại là Ikiradai (I-ki-rê-đai),
v.v...
Việc khôi phục lại các tên Mông Cổ và các tộc khác từ những
tên phiên âm Trung Quốc không phải là dễ dàng, nhất là
cho đến nay chưa ai chuyên nghiên cứu khôi phục toàn bộ
những tên nhân vật có liên quan đến lịch sử Việt Nam. Tuy
vậy, dựa vào tính chất trùng tên nhiều của người Mông Cổ
trong các thư tịch cũ (xem Tam sử đồng danh lạc của Uông
Huy Tổ), dựa vào Hoa di dịch ngữ (1389), Nguyên sử ngữ
giải (1781), cũng như dựa vào các công trình của các nhà
Mông Cổ học thế giới như P.Pelliot (Pháp), P.Poucha (Tiệp),
M.Lewicki (Ba Lan) ( )..., chúng tôi cố gắng khôi phục lại
tên tất cả các nhân vật Mông Cổ và các tộc khác có liên
quan đến cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam thế kỷ
XIII đã nhắc đến trong quyển sách này. Những tên đó được
khôi phục lại bằng tiếng Mông Cổ trung đại theo cách ghi
âm của các nhà Mông Cổ học thế giới và sau đó phiên âm ra
chữ Việt. Đối với từng tên người, chúng tôi đều chú thích rõ
các cách phiên âm Trung Quốc ở dưới trang. Tuy vậy, có
một số tên như Hốt Tất Liệt (Qubilai), Toa Đô (Sogãtũ),Ô
Mã Nhi (`Omar), Thoát Hoan (Toyan hay Toyon), vì đã quen
với chúng ta, trong sách này chúng tôi không phiên âm
thành Xô-ghê-tu, Ô-ma hay Tô-gan nữa mà chỉ chú thích để
người đọc nắm được tên Mông Cổ của các tên tướng đó.
Một vấn đề khác được đặt ra khi nghiên cứu hai nguồn tài
liệu Việt Nam và Trung Quốc là vấn đề lịch pháp. Có tìm
hiểu và đối chiếu được lịch pháp của Việt Nam và Trung
Quốc thế kỷ XIII mới xác định được thời gian xảy ra các sự
kiện khi so sánh hai nguồn tài liệu.
Trong Bàn châu văn tập (quyển 16) của Hồng Quát đời Tống
có chép bài “Sắc thư ban lịch cho Nam Bình vương Lý Thiên
Tộ (tức Lý Anh Tông 1138 - 1175)”. Nguyên sử Bản kỷ chép
rằng ngày Giáp Tý tháng 7 năm Chí Nguyên 2 (9-9-1265)
“chiếu ban cho Quang Bính (tức Trần Thái Tông) lịch năm
Chí Nguyên thứ 3”. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng năm
Khai Thái thứ 1 (1324), “vua Nguyên sai Mã Hợp Mưu
(Mahmùd), Dương Tông Thụy sang báo việc lên ngôi và cho
một quyển lịch Thụ Thì” (q.6, t.42b). Đến năm Khai Hựu thứ
11 (1339), Đặng Lộ mới xin đổi lịch Thụ Thì trước đó thành
lịch Hiệp Kỷ (q.7, t.9b).
Chúng tôi cho rằng như vậy ít ra từ cuối thế kỷ XII đến nửa
đầu thế kỷ XIV, Việt Nam dùng lịch Trung Quốc. Để kiểm tra
điều này, chúng tôi ghi lại tất cả những ngày âm lịch có ghi
can chi được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư (thường là
ngày có nhật thực, ngày xảy ra các sự kiện khác thi thường
không được Toàn thư ghi rõ can chi) trong khoảng 50 năm
cuối thế kỷ XIII (tức giai đoạn cần nghiên cứu( ) rồi đem so
sánh với lịch Trung Quốc thì thấy hoàn toàn phù hợp ( ). Chỉ
có một trường hợp duy nhất sai biệt với lịch Trung Quốc là
chỗ Toàn thư (q.5, t.52b) chép tháng chạp năm Trùng Hưng
3 (Chí Nguyên 24) có ngày 30. Theo lịch Trung Quốc thì
tháng này thiếu, chỉ có 29 ngày. Nhưng khi xét nội dung câu
ở trong Toàn thư, chúng tôi thấy rằng ở đây đã chép nhầm
sự kiện của tháng 11 ra tháng 12( ) chứ không phải là lịch
Việt Nam khác lịch Trung Quốc. Do chỗ thống nhất lịch pháp
giữa Việt Nam và Trung Quốc ở thế kỷ XIII như vậy, chúng
tôi thấy có thể xác định các sử kiện rút ra ở hai nguồn tài
liệu theo trình tự thời gian chung. Mặt khác, có thể đổi các
ngày âm lịch chép trong hai nguồn sử liệu ra ngày dương
lịch theo một phương pháp chung. Chúng tôi đã dựa vào các
sách Lưỡng Thiên Niên Trung Tây lịch đối chiếu biểu, Trung
Tây Hồi sử nhật lịch để đổi các ngày âm lịch (hoặc ghi bằng
can chi) ra dương lịch. Việc đổi ngày âm lịch ra dương lịch
có thể đính chính lại một số điểm không chính xác trong các
sách trước đây như cuộc kháng chiến chông xâm lược Mông
Cổ lần thứ nhất xảy ra vào năm 1258 chứ không phải năm
1257... Trong sách này, chúng tôi ghi cả ngày dương lịch và
âm lịch để người đọc có thể kiểm tra lại sử liệu cũng như
cách đổi ngày. Đối với những tháng âm lịch không ghi rõ
ngày, chúng tôi ghi tháng đó bắt đầu từ ngày nào đến ngày
nào của dương lịch.
*
**
Trong sử liệu Việt Nam và Trung Quốc, các vua Trần được
gọi bằng những tên khác nhau, dễ gây ra nhầm lẫn. Nhà sử
học Nhật Bản Yamamoto Tatsuro đã khảo chứng khá công
phu về vấn đề này trong chương Chinchò no omei ni
kansuru kenkyũ (Nghiên cứu về tên vua triều Trần) ở đầu
quyển An Nam Shikenkyũ (An Nam sử nghiên cứu) tập I của
ông. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với Yamamoto. Ở đây
chúng tôi không lặp lại các chứng minh mà chỉ nêu ra
những tên vua trong giai đoạn đang nghiên cứu:
Trần Thái Tông tên là Cảnh, tức Nhật Cảnh và Quang Bính
trong sử liệu Trung Quốc, Trần Thánh Tông tên là Hoảng,
tức Nhật Huyên trong sử liệu Trung Quốc. Trần Nhân Tông
tên là Khâm, tức Nhật Tôn trong sử liệu Trung Quốc.
*
**
Trong khi sưu tầm sử liệu để soạn tập sách, này, chúng tôi
được đồng chí Sa Kính Phạm ở Trường đại học Bắc Kinh gửi
cho những tài liệu Trung Quốc không có trong các thư viện
trong nước, ở đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn.
CHƯƠNG 1: ĐẠI VIỆT TRƯỚC CUỘC KHÁNG CHIẾN
N
ới sức dân, làm kế rễ sâu gốc vững,
ấy là thượng sách giữ nước...”.
Trần Quốc Tuấn
Trong phần tư đầu tiên của thế kỷ XIII, Đại
Việt đang lâm vào tình trạng nội chiến giữa
các thế lực phong kiến cát cứ. Vương triều Lý chỉ còn là một
hơi thở thoi thóp. Chính quyền trung ương suy yếu, lúc thì
dựa vào tập đoàn phong kiến địa phương này, lúc thì dựa
vào tập đoàn phong kiến địa phường khác. Thăng Long mấy
lần bị đốt phá, vua Lý phải trốn khỏi kinh thành.
Đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. Người chết đói nhiều,
người sống sót phá sản, lưu vong. Bọn phong kiến cát cứ lại
bắt nhân dân làm phu dịch, đào hào, đắp luỹ và xua họ vào
cuộc nội chiến đẫm máu. Thời kỳ đen tối đó kéo dài dằng
dặc trong suốt mười mấy năm trời. Thế rồi, một thế lực
phong kiến mạnh nhất, họ Trần, đã dần dần chiếm được ưu
thế, khống chế được chính quyền trung ương đang tàn tạ,
chiến thắng được các tập đoàn phong kiến cát cứ khác,
thống nhất đất nước. Quyền lực họ Trần ngày càng lớn. Huệ
Tông nhà Lý phát điên, trao ngai vàng cho Chiêu Hoàng,
một cô gái lên bảy. Điều đó càng tạo điều kiện thuận lợi cho
sự biến ngày 11 tháng chạp năm Ất Dậu (10-1-1226), ngôi
vua về tay Trần Cảnh. Thế là vương triều Lý đổ, vương triểu
Trần thành lập.
Hoà bình đã trở lại trên đất nước, nhân dân được yên ổn
làm ăn. Họ Trần khôi phục được chính quyền thống nhất,
chấm dứt cuộc nội chiến phong kiến, về khách quan đã đáp
ứng được đòi hỏi của nhân dân. Nền kinh tế đầu đời Trần lại
bắt đầu phát triển.
Để khôi phục lại sức sản xuất bị đình đốn cuối thòi Lý, nhà
Trần đã chú trọng tổ chức khai khẩn đất hoang, mở rộng
diện tích sản xuất nông nghiệp. Ở mỗi lộ, có hai viên đồn
điền chánh sứ và phó sứ đôn đốc việc khai khẩn đồn điền
của quân dân. Năm 1266, vương hầu, công chúa, phò mã,
cung phi chiêu mộ những người dân nghèo đói phiêu tán
làm nô tỳ, khai khẩn ruộng hoang, lập thành các điền trang.
Bọn quý tộc lại sai nô tỳ đến những vùng ven biển, đắp đê
ngăn nước mặn, qua hai ba năm, đất khai phá trỏ thành
đồng ruộng, đó là những tư trang của quý tộc. Nô tỳ được
phép lấy vợ lấy chồng, cư trú và canh tác ở đấy.
Thời Trần sơ, nhà nước rất chú ý việc đắp đê phòng lụt.
Năm 1248, Thái Tông hạ lệnh cho các lộ đắp đê từ đầu
nguồn đến bãi biển để đề phòng nước sông dâng to, gọi là
đê “đỉnh nhĩ” (quai vạc), đặt chức hà đê chánh sứ và phó sứ
để trông coi việc đắp đê. Năm 1255, vua Trần sai Lưu Miễn
đắp các đê ở Thanh Hóa. Cũng năm này, nhiệm vụ của các
hà đê sứ được quy định rõ ràng hơn: “Tuyến tản quan làm
hà đê chánh phó sứ ở các lộ, khi việc cày cấy rỗi thì đốc
quân lính đắp đê đập, đào khe ngòi để phòng lụt hạn” ( ).
Sách An Nam chí cho chúng ta biết khá rõ về tình hình đê
điều thời Trần: “Xứ Giao Chỉ, dân cư trù mật, đất không đủ
cày, cho nên người trước đắp đê cao ở hai bên bờ sông ngòi
đề phòng nước lụt; đất làm muối ở ven biển, bị nước mặn
lấn vào, bọn quý tộc thế gian muốn chiếm riêng đất đó, để
tự ý đắp đê ngăn nước mặn rồi gieo giống cày cấy ở bên
trong, như thế là để yên dân và khai thác hết mối lợi của
đất đai. Lại như sông Phú Lương (tức sông Hồng - T.G.),
phát nguyên ở trong vùng núi Tây Bắc, chảy quanh co về
phía Đông Nam, tràn trề mênh mông, khoảng mùa hạ, mùa
thu, trời mưa dầm dề, thuỷ hoạn xảy ra, cho nên hai bên bờ
sông đều đắp đê để phòng bị. Một con đê từ sông Đáy đến
sông Hải Triều (tức sông Luộc - T.G.), sông Phù Vạn thì dứt.
Một con đê từ bến sông Bạch Hạc đến các vùng sông Lỗ,
sông Đại Lũng, cửa Mãnh, cửa Ninh thì dứt. Đê đều cao ba
thước, rộng năm trượng, đặt hà đê [chánh] phó sứ để trông
nom. Mỗi năm vào tháng giêng, quan coi đê đốc thúc nhân
dân phụ cận, không phân sang hèn già trẻ đều đi đắp đê.
Chỗ nào thấp trũng thì đắp cao thêm, chỗ nào lở thì bồi đắp
vào.Đến đầu mùa hạ thì xong việc.
Ấy là lệ thường hằng năm. Vào khoảng tháng sáu, tháng
bảy, nước sông dâng to, đê sứ phải tự mình ra sức tuần
hành xem xét, gặp chỗ bị lở thì sửa chữa ngay, nếu lười
biếng thì mất chức. Nếu để cư dân trôi đắm, lúa má chìm
hại thì lượng theo nặng nhẹ mà trách phạt. Từ đó, thủy tai
không còn nữa mà đời sông của dân được sung sướng, đất
không bỏ sót nguồn lợi nao" ( ).
Nhà Trần cũng đã đào thêm một số kênh và sông, có tác
dụng về mặt giao thông cũng như về mặt thủy lợi. Năm
1231, vua Trần sai nội minh tự Nguyễn Bang Cốc đem phủ
quân đào kênh Trầm và kênh Hào từ phủ Thanh Hóa (thuộc
huyện Tĩnh Gia) đến địa giới phía nam Diễn Châu. Sông Tô
Lịch được khơi sâu thêm nhiều lần, lần đầu tiên vào năm
1256.
Do điều kiện thiên nhiên cũng như do sức lao động của
nhân dân và chính sách bảo vệ sản xuất nông nghiệp, châu
thổ các sông Hồng, sông Mã... đã trở thành vùng sản xuất
nhiều lúa. Uông Đại Uyên, người Trung Quốc đời Nguyên,
tác giả sách Đảo di chí lược, đã chép rằng: “Nước Đại Việt...
đất rộng người đông, khí hậu thường nóng, ruộng đất phần
lớn phì nhiêu” ( ). Trần Phu, sứ nhà Nguyên đến nước ta, đã
ghi lại rằng: “Lúa mỗi năm chín bôn lân, tuy vào giữa mùa
đông mà mạ vẫn mườn mượt "( ). Đấy là tình hình sau
chiến tranh nhưng ít nhiều cũng cho chúng ta hình dung
được vẻ phong thịnh của nông nghiệp trong những ngày
hòa bình trước cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông Cổ.
Từ buổi đầu đời Trần, bên cạnh ruộng đất làng xã và ruộng
đất phong cấp của quý tộc thuộc sở hữu nhà nước, bộ phận
ruộng đất tư hữu đã phát triển mạnh mẽ( ). Năm 1237,
Trần Thái Tông đã xuống chiếu định thể lệ làm chúc thư,
văn khế ruộng đất và vay mượn tiền. Năm 1254, Thái Tông
cho phép bán quan điền, tức ruộng công, cho dân mua làm
ruộng tư, cứ mỗi “diện” (bây giờ gọi mẫu là diện) giá 5
quan tiền ( ).
Chế độ thuế khóa được quy định trên cơ sở chế độ sở hữu
ruộng đất. Thuế ruộng tư thời Trần mỗi mẫu 3 thăng thóc.
Nông dân cày ruộng công mỗi mẫu phải nộp 100 thăng.
Năm 1242, Trần Thái Tông quy định thuế nhân đinh nộp
bằng tiền và đánh lũy tiến theo ruộng đất. Người nào có
ruộng từ một đến hai mẫu, phải nộp một quan tiền, có từ
ba đến bốn mẫu nộp hai quan, và từ năm mẫu trở lên nộp
ba quan. Ai không có ruộng đất thì được miễn. Thuế ruộng
bãi dâu và ruộng muối đều nộp bằng tiền. Ngoài ra, nhà
Trần còn đánh thuê nhi...
 





